• Thứ Bảy, 06/08/2005 10:51 (GMT+7)

    Đầu tư CNTT trong ngân hàng: Dựa gió dong buồm

    Xu thế hội nhập với hệ thống thanh toán quốc tế buộc các ngân hàng phải gia tăng tiện ích cho khách hàng. Với nguồn vốn đầu tư hạn hẹp, các ngân hàng nhỏ đã chọn phương án: dựa vào cơ sở hạ tầng hệ thống thanh toán sẵn có của một ngân hàng lớn để kết nối, phát triển các giao dịch thanh toán của mình.

    Xu thế hội nhập với hệ thống thanh toán quốc tế buộc các ngân hàng phải gia tăng tiện ích cho khách hàng. Với nguồn vốn đầu tư hạn hẹp, các ngân hàng nhỏ đã chọn phương án: dựa vào cơ sở hạ tầng hệ thống thanh toán sẵn có của một ngân hàng lớn để kết nối, phát triển các giao dịch thanh toán của mình.

    B2C

    Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam (NHPN) hoạt động từ năm 1993 với số vốn điều lệ 10 tỷ đồng. Đến nay, tổng tài sản của NHPN đã tăng trên 70 lần. Tổng huy động vốn tăng 108 lần; vốn điều lệ tăng 14 lần; tổng dư nợ cho vay tăng 81 lần; nợ quá hạn ròng dưới mức cho phép; lợi nhuận trước thuế tăng 115 lần. NH có 40 chi nhánh khắp cả nước, quan hệ với 3.000 ngân hàng đại lý, tại 45 quốc gia trên thế giới.

    Theo ông Nghiêm Sỹ Thắng, giám đốc trung tâm CNTT NHPN, trước đây, việc thanh toán (tiền mặt, chuyển khoản) qua hệ thống liên NH mất từ 1- 2 ngày, trong nội bộ NHPN (giữa các chi nhánh) mất vài giờ. Thời gian này quá chậm trong thời đại Internet! Do vậy, năm 2003, NHPN đề ra mục tiêu kết nối hệ thống thanh toán thẻ. Ban đầu, NHPN dự định hợp tác với một NH trong nước và một NH quốc tế có hệ thống thanh toán toàn cầu. Tuy nhiên, dự án này không thành hiện thực do phía đối tác yêu cầu NHPN phải chuyển thông tin tài khoản khách hàng của NHPN vào hệ thống của đối tác. Theo ông Thắng, yêu cầu này rất nhạy cảm (vì thông tin khách hàng cần bảo mật), đồng thời gây khó cho chiến lược kinh doanh của PN.

     

    ATM phát triển nhanh có phần đóng góp quan trọng của đầu tư CNTT. Ảnh: Phan Thanh Nam

    Không thể bó tay trước mong muốn phát triển dịch vụ giao dịch phục vụ khách hàng, NHPN chọn một hướng đi khác. Là một ngân hàng nhỏ, kinh phí đầu tư hạn chế nên NHPN đã chọn giải pháp kết nối hệ thống thanh toán của mình vào hệ thống của NH Vietcombank (VCB), dựa vào cơ sở hạ tầng như Trung Tâm Xử Lý, điểm chấp nhận thẻ (máy ATM, POS...) sẵn có của VCB để kết nối các giao dịch thanh toán của NHPN với nhau, gia tăng tiện ích cho khách hàng. Việc cho các NH khác kết nối sẽ giúp VCB giảm chi phí cho hệ thống hoạt động. Mỗi chi nhánh đều có tài khoản thẻ, hệ thống CSDL riêng. Để quản lý thống nhất toàn bộ hệ thống CSDL phân tán từ các chi nhánh, NHPN đã thành lập Trung Tâm CNTT (7 nhân viên), xây dựng phần mềm quản lý, xử lý CSDL, đầu tư 2 máy chủ: quản lý kết nối giao dịch qua VCB và quản lý thẻ (khách hàng, tài khoản...). Tổng kinh phí đầu tư khoảng gần 300.000 USD cho thiết bị phần cứng (máy tính, ATM...), phần mềm. Kết nối vẫn đảm bảo tính bảo mật do bàn phím trên máy ATM, dữ liệu đường truyền giữa các NH đều được mã hoá, mật khẩu thẻ (số PIN) do VCB tạo. Khi thực hiện giao dịch, hệ thống VCB chỉ kiểm tra số PIN sau đó chuyển cho NH thành viên xử lý yêu cầu giao dịch mà không thể biết được các thông tin về khách hàng của NH thành viên (số tài khoản, số tiền...).

    Tuy nhiên, NHPN hiện vẫn sử dụng chương trình offline, các dữ liệu giao dịch phân tán ở các chi nhánh. Mỗi ngày, phần mềm quản lý sẽ tập hợp và xử lý các số liệu giao dịch từ các chi nhánh và cuối giờ làm việc sẽ phân phối dữ liệu về lại để các chi nhánh hạch toán. Do đó, hàng ngày, hệ thống ATM của NHPN phải tạm ngưng hoạt động từ 5 – 10 phút để đồng bộ dữ liệu giữa các chi nhánh. Trong khoảng thời gian đó, khách hàng giao dịch ATM sẽ nhận được thông báo tạm ngưng dịch vụ trên màn hình (out of service).

    Do dùng chung nên khi hệ thống của VCB trục trặc (đường truyền, mạng), hệ thống của NHPN sẽ bị ảnh hưởng. Nhưng nếu chỉ 1 NH thành viên trục trặc thì chỉ máy ATM của NH đó không hoạt động, còn cả hệ thống không bị ảnh hưởng.

    Một vướng mắc hiện nay là chuyển tiền bằng thẻ giữa các NH thành viên của hệ thống này vẫn chưa thực hiện được do hệ thống thanh toán của các NH chưa tương thích nhau. Muốn thay đổi, mỗi NH phải xây dựng chương trình chuyển mạch và quản lý thẻ riêng với kinh phí từ vài trăm ngàn đến 1 triệu USD. Đây là vấn đề vượt quá khả năng tài chính và nghiệp vụ kỹ thuật của các NH nhỏ. Ngoài ra, thoả thuận phí giao dịch giữa các NH cũng chưa thống nhất.

    B2B

    Eximbank là một thành viên của liên minh hệ thống thanh toán Vietcombank – Eximbank và 6 ngân hàngkhác kể trên. Ngân hàng cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam Eximbank chính thức hoạt động từ năm 1990. Đến nay, Eximbank đã bốn lần gia tăng vốn điều lệ, hiện nay con số đã lên 500 tỷ đồng, với 5 chi nhánh cấp 1 hoạt động khắp cả nước, thiết lập quan hệ đại lý với 600 ngân hàng trên 60 quốc gia và là thành viên của mạng liên minh .


    Năm 1999, Eximbank đã triển khai hệ thống phát hành và thanh toán thẻ quốc tế SemaCard (Pháp) với khoản đầu tư 500.000 USD ngay sau khi xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung.

     

    Ông Nghiêm Sỹ Thắng, ngân hàng Phương Nam:
    Do vốn đầu tư hạn chế, thời gian đầu các NH nhỏ phải dựa vào hệ thống quản lý ATM của các NH lớn để theo kịp với sự phát triển của hệ thống thanh toán. Đây là giao dịch thanh toán điện tử

     

       
     

    B2C (Doanh nghiệp (NH lớn) với khách hàng (NH nhỏ). Đến khi “vững” rồi, NH nhỏ có thể đầu tư phần mềm chuyển mạch và quản lý thẻ ATM riêng, chuyển sang hình thức B2B.
    Với việc nhanh nhạy chọn cách làm B2C, hiện NH PN đã có trên 1500 khách hàng đăng ký sử dụng thẻ ATM, mức tồn quỹ khoảng 2 tỷ đồng. Khách hàng dùng thẻ của NHPN hiện có thể thực hiện giao dịch thanh toán tại 500 máy ATM trong hệ thống mạng liên kết giữa VCB và 6 NH thành viên trong đó NHPN có 10 máy ATM đặt tại 10 chi nhánh.

       

    Năm 2001, Eximbank đã phát hành thẻ MasterCard và VisaCard (năm 2002). Đến năm 2003 thì xây dựng đề án chuyển mạch và quản lý thẻ và một năm sau đưa hệ thống ATM vào hoạt động song hành với hệ thống thẻ nội địa EximbankCard. Eximbank đã đầu tư hệ thống chuyển mạch và quản lý thẻ CTL (Anh) gồm:phần mềm Prime, Switching Online, ATM Controller và 10 máy ATM Diebold. Tổng giá trị đầu tư hệ thống khoảng 1 triệu USD, thời gian xây dựng và thiết kế hệ thống từ 4 – 5 tháng. Phần triển khai cũng cần khoảng thời gian tương tự. Ông Quốc Thái, trưởng phòng CNTT Eximbank cho biết: “ Với số phát hành hơn 60.000 thẻ thanh toán nội địa và 20.000 thẻ thanh toán quốc tế; Eximbank đã đầu tư hệ thống này để gia tăng tiện ích và cải thiện chất lượng dịch vụ khách hàng. Khách hàng có thể trừ ngay tài khoản cá nhân qua 2 kênh ATM và POS -tức các điểm thanh toán tại siêu thị, trung tâm thương mại... Tuy nhiên, Eximbank vẫn phải kết nối vào mạng lưới máy ATM, POS rộng khắp của ngân hàng VCB để mở rộng phạm vi hoạt động. Với hệ thống này, khách hàng của Eximbank có thể giao dịch thanh toán trên hệ thống của Eximbank và VCB ngay cả thời điểm hệ thống VCB bị trục trặc ”.

    Minh Trí

    ID: B0508_53