• Thứ Tư, 12/07/2006 16:35 (GMT+7)

    Suy nghĩ về đào tạo tin học ở nước ta

    Chúng ta thường được nghe nhận xét của các nhà tuyển dụng nhân sự lĩnh vực CNTT rằng công tác đào tạo tin học chưa đáp ứng yêu cầu công việc thực tế. Nhận xét này lặp đi lặp lại nhiều lần, năm này qua năm khác. Nhưng có một điều hơi lạ là các tổ chức, cơ sở đào tạo và quản lý (Bộ GDĐT, Bộ BCVT, có thể kể cả hội Tin Học...) lại chưa lên tiếng đồng ý hay không đồng ý với nhận xét đó.

    Chúng ta thường được nghe nhận xét của các nhà tuyển dụng nhân sự lĩnh vực CNTT rằng công tác đào tạo tin học chưa đáp ứng yêu cầu công việc thực tế. Nhận xét này lặp đi lặp lại nhiều lần, năm này qua năm khác. Nhưng có một điều hơi lạ là các tổ chức, cơ sở đào tạo và quản lý (Bộ GDĐT, Bộ BCVT, có thể kể cả hội Tin Học...) lại chưa lên tiếng đồng ý hay không đồng ý với nhận xét đó.

    Đã đến lúc, dù đã quá muộn, chúng ta cần khảo sát, điều tra tình hình để phân tích, đánh giá và rút ra những điều cần thay đổi nhằm xây dựng một kế hoạch toàn diện, nâng cao chất lượng đào tạo tin học. Để làm việc này, có rất nhiều vấn đề cần phải giải quyết. Ở đây tôi chỉ đề cập đến chương trình đào tạo và cũng chỉ nhắm đến một phần của chương trình đào tạo đại học (ĐH).

    Các nhà tuyển dụng cần tuyển người tốt nghiệp ĐH ở nhiều ngành khác nhau, và ngành nào cũng đòi hỏi kiến thức và kỹ năng về CNTT, riêng ngành CNTT thì có chương trình riêng để đào tạo cử nhân tin học, kỹ sư máy tính... Trong khuôn khổ bài trao đổi này, tôi chỉ đề cập đến chương trình tin học cho các ngành khác CNTT.

    Thực hiện luật giáo dục, Bộ GDĐT đã tổ chức xây dựng chương trình khung cho các ngành đào tạo. Trong chương trình khung cho bất kỳ ngành nào cũng đều có "Kiến thức giáo dục đại cương", trong phần kiến thức này có học phần "Tin học cơ sở" với 4 (hoặc 5) đơn vị học trình (đvht). Chưa nói đến nội dung chương trình, có thể thấy thời lượng của học phần "Tin học cơ sở" chiếm tỷ lệ thấp.

    Lấy chương trình khung của nhóm ngành khoa học tự nhiên làm ví dụ. Phần kiến thức chung bắt buộc cho nhiều ngành như sau:

     

    Triết học Mác Lênin

       

    6 đvht

     
     

    Kinh tế chính trị

       

    5 đvht

     
     

    Lịch sử Đảng CSVN

       

    4 đvht

     
     

    Chủ nghĩa xã hội khoa học

       

    4 đvht

     

     

    Tư tưởng Hồ Chí Minh

     

     

    3 đvht

     

     

    Giáo dục thể chất

     

     

    5 đvht

     

     

    Giáo dục quốc phòng

     

     

    6 đvht

     

     

    Tin học cơ sở

     

     

    4 đvht

     

     

    Tổng

     

     

    37 đvht

     

    Như vậy "Tin học cơ sở" chỉ chiếm 10,8%, so với 70% của các môn chính trị. Đã đến lúc cần tăng thời lượng cho học phần "Tin học cơ sở". Cần tăng bao nhiêu tiết và tăng thêm nội dung gì tôi sẽ đề xuất sau.

    Mục tiêu học phần "Tin học cơ sở" nêu trong chương trình khung là cung cấp cho sinh viên các ngành khoa học tự nhiên những kiến thức tin học cơ bản nhất. Sinh viên sẽ sử dụng thành thạo máy vi tính, hiểu biết để vận hành mạng và lập được chương trình giải các bài toán khoa học kỹ thuật bằng Turbo Pascal.
    Chương trình đào tạo của học phần "Tin học cơ sở" gồm 3 phần:

    • Đại cương về tin học: 6 tiết, chỉ có lý thuyết, không có thực hành.

    • Sử dụng máy vi tính: 4 tiết lý thuyết và 6 tiết thực hành.

    • Lập trình bằng ngôn ngữ Pascal: 24 tiết lý thuyết và bài tập, 20 tiết thực hành.

    Với 4 đvht cho toàn bộ học phần "Tin học cơ sở" thì cấu trúc của chương trình như vậy cũng hợp lý. Tuy nhiên qua nhiều năm áp dụng, các trường ĐH thực hiện học phần này rất khác nhau và cũng nảy sinh lắm điều băn khoăn.

    Phần 1 đề cập đến nhiều khái niệm: Thông tin, xử lý thông tin, nguyên lý Von Neuman, cấu trúc máy tính, thuật toán, hệ điều hành, ngôn ngữ máy tính, mạng máy tính và Internet... Những khái niệm này đều rất cơ bản và sinh viên hoàn toàn có thể nhận thức được ở mức khái niệm cơ sở. Tuy nhiên, ngay ở mức khái niệm cơ sở này, nhiều trường đã bỏ qua khái niệm này hay khái niệm khác hoặc không mô tả được bản chất cốt lõi nhất của khái niệm.

    Theo tôi, khái niệm cơ sở cần được hiểu một cách "động", có phát triển. Nếu cách đây mấy mươi năm, nhiều khái niệm được xem là chuyên sâu hoặc chưa hình thành rõ rệt thì nay đã trở thành khái niệm cơ sở và trở nên phổ biến; Internet là một ví dụ. Một số khái niệm khác như bộ mã chuẩn (chuẩn tiếng Việt, chuẩn Unicode, chuẩn chữ Nôm...) cũng cần cho sinh viên biết. Khái niệm phần mềm, phần cứng, sở hữu trí tuệ, bảo mật, tin tặc (hacker, cracker) cũng vậy. Khái niệm Internet không chỉ dừng lại ở truy cập mà cần cho sinh viên biết về những ứng dụng rất phổ biến hiện nay như thương mại điện tử, chính phủ điện tử, đào tạo từ xa, cổng thông tin điện tử (portal)...

    Ở phần 2 của chương trình, sinh viên sẽ làm quen với hệ điều hành MS-DOS, Windows và soạn thảo văn bản, virus máy tính và cách phòng chống. Nên chăng ở phần này chúng ta trang bị thêm cho sinh viên kỹ năng khai thác phần mềm xử lý thống kê Excel? Do những năm sắp tới đây, soạn thảo văn bản là kỹ năng sẽ được đào tạo tại những bậc phổ thông và kỹ năng gõ phím "10 ngón" chỉ là vấn đề thời gian.

    Đáng quan tâm hơn cả là phần 3: Lập trình bằng ngôn ngữ Pascal. Nếu là chương trình đào tạo vào khoảng 20, 30 năm trước thì không phải bàn cãi, đặc biệt với các ngành khoa học tự nhiên. Nhưng với sự phát triển không ngừng của các trình ứng dụng ngày nay thì việc thay thế ngôn ngữ Pascal bằng ngôn ngữ C là việc nên làm vì C là ngôn ngữ cấu trúc được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Ngoài ra, việc tiếp cận một ngôn ngữ lập trình nên theo một trình tự logic: Assembler, ngôn ngữ cấu trúc, ngôn ngữ hướng đối tượng, ngôn ngữ visual... Đối với sinh viên không chuyên phần cứng thì có thể không học assembler mà bắt đầu bằng ngôn ngữ cấu trúc.

    Trên đây là một số suy nghĩ về học phần "Tin học cơ sở" trong chương trình khung của nhóm ngành khoa học tự nhiên. Nhân tiện đây tôi có một số đề nghị:

    1. Hãy trả lời câu hỏi: Khi Nhà Nước có chủ trương xây dựng chính phủ điện tử, thương mại điện tử, đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong tất cả các lĩnh vực thì đào tạo, đặc biệt là đào tạo ĐH phải đổi mới như thế nào để đáp ứng nhu cầu đó?

    2. Người sử dụng nhân lực CNTT có nhận xét gì về việc đào tạo tin học (về kiến thức, về kỹ năng)? Chương trình tin học cơ sở phải thay đổi như thế nào để phù hợp với nhu cầu đó?

    3. Đưa thêm một số học phần về CNTT như phân tích thiết kế hệ thống thông tin (5 đơn vị học trình) và tùy theo ngành học để thêm học phần thích hợp vào khối kiến thức đại cương bắt buộc.

    4. Tổ chức các cuộc thảo luận trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên diễn đàn Internet... về những vấn đề trên và chương trình khung đào tạo CNTT (liên quan đến khoa học máy tính, kỹ thuật máy tính...). Dần dần hình thành một số liên ngành khác như: Sinh - Tin, Y - Tin, Hóa - Tin, Tin học quản trị kinh doanh... Tin học phải được nhúng sâu vào các ngành, chứ không phải chỉ là một công cụ bên ngoài hỗ trợ cho ngành đó. Nó phải là một kiến thức, kỹ năng quyện vào bên trong ngành .

    5. Cần đưa môn học về nghề nghiệp CNTT vào chương trình đào tạo ngành CNTT. Nội dung môn học có thể là: Hiểu nghề CNTT như thế nào? Các chức danh nghề nghiệp; kiến thức, kỹ năng cần thiết; vị trí của nghề CNTT trong xã hội; sự phát triển nghề; đạo đức nghề; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; hành trang nghề nghiệp...

    6. Cần giải đáp ngay câu hỏi: Nội dung chương trình tin học ở bậc phổ thông là gì? Có phải học sinh được đào tạo chỉ để biết gõ văn bản? Học tin học ở phổ thông để rèn luyện kỹ năng trí tuệ, logic gì? Kỹ năng làm việc trong môi trường CNTT như thế nào? (theo nhóm, từ xa, giao tiếp, ảo...)

    Thực tế còn nhiều vấn đề chưa thể trả lời ngay một lúc, nhưng chúng ta cần đặt ra để tiếp cận dần và đưa ra những chiến lược đúng đắn trong đào tạo CNTT.

    Nguyễn Lãm

    ID: B0607_45