• Thứ Sáu, 07/07/2006 10:55 (GMT+7)

    Phổ cập tin học ở Nhật Bản

    Nhật Bản (NB), như tất cả các quốc gia, hiểu rằng CNTT ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển và sức cạnh tranh của đất nước trong nền kinh tế toàn cầu. Do vậy, việc phổ cập tin học (TH) nói riêng và cải cách giáo dục nói chung được đặc biệt quan tâm.

    Nhật Bản (NB), như tất cả các quốc gia, hiểu rằng CNTT ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển và sức cạnh tranh của đất nước trong nền kinh tế toàn cầu. Do vậy, việc phổ cập tin học (TH) nói riêng và cải cách giáo dục nói chung được đặc biệt quan tâm.

    Định hướng chung

    Việc phổ cập TH tại NB gồm các giai đoạn như sau:

    - Lãnh đạo trong ngành giáo dục đào tạo (GDĐT) phải có nhận thức về tầm quan trọng của CNTT, có kiến thức về ứng dụng CNTT.

     

     

     

     

    Để phổ cập TH, thời gian và kinh phí cho đào tạo GV, trang bị máy tính, mạng máy tính có kết nối Internet, xây dựng PM GDĐT của Chính Phủ Nhật Bản là không nhỏ. Trong bối cảnh nền kinh tế tri thức toàn cầu hiện nay, chắc chắn việc phổ cập TH thành công đã đóng góp rất nhiều không chỉ cho nền GDĐT Nhật Bản mà còn cho sức cạnh tranh của nền kinh tế Nhật Bản - nền kinh tế lớn thứ 2 trên thế giới.

     

     

     

    - Giáo viên (GV) phổ thông (PT) phải được đào tạo để có khả năng ứng dụng CNTT, giảng dạy TH trong nhà trường.

    - Máy tính được thiết lập và nối mạng trong các trường PT.

    - Xây dựng các phần mềm (PM) giảng dạy và học tập.

    - Đưa TH thành một môn học chính thức trong chương trình PT.

    Hơn nữa, chính phủ NB cũng nhận thấy việc phổ cập TH nhà trường là một bước trong chương trình cải cách GDĐT quốc gia. Phổ cập TH phải song song với ứng dụng TH để thay đổi, nâng cao phương pháp giảng dạy, cách thức quản lý trong hệ thống GDĐT.

    Cách thức thực hiện

    Bộ GDĐT kết hợp với Bộ Bưu Chính Viễn Thông (BCVT), Bộ Ngoại Thương và Công Nghiệp để thực hiện việc phổ cập TH. Bộ GDĐT xây dựng và công bố các tiêu chuẩn của chương trình giảng dạy PT trên toàn quốc năm 1998. Theo đó, TH trở thành môn học chính thức trong chương trình giảng dạy PT từ năm 2002 đối với bậc tiểu học và trung học cơ sở (THCS), từ năm 2003 đối với bậc trung học PT (THPT) (ở NB, tiểu học là 6 năm, THCS 3 năm, và THPT 3 năm).

    Từ 1998 đến năm 2000, Bộ BCVT NB kết hợp với Bộ GDĐT xây dựng, kiểm tra, đảm bảo việc kết nối hệ thống mạng tốc độ cao giữa các trường học (1076 trường). Tổng chi phí cho dự án này là 250 triệu USD. Tiếp theo Bộ BCVT xây dựng đề án hỗ trợ, giảm chi phí kết nối Internet cho các trường PT từ năm 1999.

    Bộ Ngoại Thương và Công Nghiệp NB hợp tác chặt chẽ với Bộ GDĐT để xây dựng các dự án, chương trình đưa máy tính và mạng máy tính vào trường học, tạo môi trường GDĐT có sự hỗ trợ của CNTT. Từ 1994, khi mạng máy tính và Internet còn rất mới mẻ trên thế giới, dự án kết nối mạng 100 trường học (100 - School Networking Project) đã được triển khai để kết nối, trao đổi thông tin giữa các trường học và kết nối trường với mạng Internet. Dự án này kéo dài từ 1994 - 1998, mỗi năm được cấp 2,5 triệu USD, đóng vai trò như chương trình thí điểm phổ cập TH toàn quốc sau này. Dự án cũng xây dựng các ứng dụng CNTT hỗ trợ giảng dạy và học tập trong trường.

    Tiếp theo đó, chương trình xúc tiến, đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong GDĐT được thực hiện từ 1998 - 1999 với các hoạt động như đào tạo CNTT cho GV PT, xây dựng các hệ thống thông tin phân tán phục vụ GDĐT. Chương trình này gồm 63 dự án có tổng chi phí 100 triệu USD. Trong khuôn khổ các dự án, kỹ sư hệ thống CNTT của các công ty CNTT được gửi đến các trường để tham gia, cộng tác xây dựng, quản lý hệ thống mạng máy tính.

     

    3 mục tiêu phổ cập TH của chính phủ Nhật Bản

     

     
     

    1. Nâng cao khả năng sử dụng máy tính - mạng máy tính - Internet, ứng dụng CNTT-TT cho mọi học sinh PT.
    2. Ứng dụng CNTT-TT để xây dựng, phát triển các phương pháp giảng dạy mới trực quan, sinh động, dễ hiểu hơn cho học sinh, nâng cao chất lượng giảng dạy - học tập.
    3. Nâng cao khả năng trao đổi thông tin – liên lạc giữa người dân địa phương, gia đình và nhà trường thông qua hệ thống mạng thông tin máy tính và Internet.

     

     

    Dựa trên kinh nghiệm từ dự án kết nối mạng 100 trường học, dự án E-square (e2 – educational electronic) được triển khai từ năm 1999 với kinh phí 2,5 triệu/ năm. Mục tiêu đặt ra là hoàn thành hệ thống mạng máy tính và kết nối Internet các trường PT trên toàn quốc, hoàn thiện cơ sở hạ tầng CNTT, hệ thống PM GDĐT, các phương pháp giảng dạy có sự hỗ trợ của CNTT... để đưa TH thành môn học chính thức trong nhà trường từ năm 2002.

    Bắt đầu từ năm 2000, một chương trình đào tạo kéo dài trong 3 năm được triển khai trên toàn quốc với mục đích cung cấp kiến thức CNTT cho toàn bộ GV PT, giúp GV có khả năng ứng dụng CNTT vào GDĐT, hơn nữa, có khả năng giảng dạy môn TH trong nhà trường. Cũng trong thời gian này, giảng dạy TH được thí điểm ở một số trường PT. Song song với đào tạo GV, việc xây dựng và cung cấp các văn bản hướng dẫn, sách giáo khoa TH và các thông tin liên quan đến việc giảng dạy TH ở các trường PT cũng được tiến hành. Tiếp đó là xây dựng PM cho GDĐT và thư viện PM GDĐT tại các trung tâm GDĐT.

    Thay cho lời kết

       

    Về các cơ quan được đề cập trong bài

     

       

    Trong bài viết, các Bộ GDĐT, Bộ BCVT và Bộ Ngoại Thương và Công Nghiệp được giữ nguyên tên gọi cho bạn đọc dễ theo dõi. Tuy nhiên cần phải giải thích thêm rằng từ năm 2001, chính phủ Nhật đã tổ chức lại các bộ, ngành của mình trong khuôn khổ Chương Trình Cải Cách Chính Phủ nhằm nâng cao hiệu quả - chất lượng quản lý, theo đó:
    1. Bộ Giáo Dục - Khoa Học - Thể Thao - Văn Hoá (thường được người Nhật gọi tắt là Bộ Giáo Dục) và cơ quan Khoa Học Kỹ Thuật quốc gia được gộp lại thành Bộ Giáo Dục - Văn Hóa - Thể Thao - Khoa Học - Kỹ Thuật.
    2. Bộ Nội Vụ, Bộ BCVT, và cơ quan quản lý công cộng quốc gia được gộp lại thành Bộ Quản Lý Công Cộng - Nội Vụ - Bưu Chính - Viễn Thông. Đến năm 2004 thì bộ này được đổi tên thành Bộ Nội Vụ và Truyền Thông.
    3. Bộ Ngoại Thương và Công Nghiệp và các cơ quan liên quan đến các hoạt động kinh tế của các bộ khác được gộp lại thành Bộ Kinh Tế - Thương Mại - Công Nghiệp.

     

    Phổ cập TH ở NB bắt đầu từ năm 1994 và phải trải qua một thời gian dài chuẩn bị - thí điểm, tận đến năm 2002 mới được tiến hành đồng loạt ở các trường PT trên toàn quốc. Mục tiêu cuối cùng đã đạt được là đưa TH thành môn chính thức trong chương trình PT và máy tính được lắp đặt - nối mạng ở tất cả các trường PT. Theo thống kê năm 2005 của Bộ GDĐT – Văn Hoá – Thể Thao – Khoa Học – Công Nghệ NB, số máy tính trung bình ở các trường tiểu học là 30,8, ở các trường THCS là 46,5 và ở các trường THPT là 107,6 máy. Tỉ lệ trung bình GV tiểu học có thể sử dụng máy tính, ứng dụng CNTT là 95,3%, GV THCS là 94,7%, và GV THPT là 95.4%. Tỉ lệ trung bình GV tiểu học có thể giảng dạy, hướng dẫn sử dụng máy tính cho học sinh là 80,1%, GV THCS là 60,5%, và GV THPT là 55,1%.

    Bài viết có sử dụng các số liệu từ Bộ Giáo Dục – Văn Hóa - Thể Thao – Khoa Học Công Nghệ Nhật Bản (http://www.mext.go.jp/); Bộ Kinh Tế - Thương Mại – Công Nghiệp (http://www.meti.go.jp/); Bộ Nội Vụ và Truyền Thông (http://www.soumu.go.jp/); Trung Tâm Giáo Dục Tin Học Nhật Bản (http://www.cec.or.jp/).

    Bùi Quang Hưng

    ID: B0607_47