• Thứ Hai, 05/02/2007 11:47 (GMT+7)

    Hệ thống tích hợp: Nỗ lực bên cung

    Trong tháng 1/2007, Oracle, IBM và nhiều nhà cung cấp giải pháp khác đã giới thiệu các giải pháp đầu cuối cho DN, trong đó tập trung vào Thông Tin Doanh Nghiệp (BI - Business Intelligence) và Sản Xuất (Manufacturing).

    Trong tháng 1/2007, Oracle, IBM và nhiều nhà cung cấp giải pháp khác đã giới thiệu các giải pháp đầu cuối cho DN, trong đó tập trung vào Thông Tin Doanh Nghiệp (BI - Business Intelligence) và Sản Xuất (Manufacturing).

    Oracle: Từ tập trung hóa hạ tầng CNTT đến lớp ứng dụng Fusion application

        “Không ít DN VN đang xây nhà từ trên nóc xuống bằng việc tìm mua các ứng dụng như ERP, CRM, HRM... mà quên mất “căn nhà” của họ đang lung lay ở nền tảng phía dưới” - Chuyên gia của Oracle  
       
       

    Các chuyên gia Oracle chỉ ra rằng: hiện nay, trong nhiều doanh nghiệp (DN) đang tồn tại tình trạng "ốc đảo công nghệ" (silo), là những hệ thống tốn nhiều tiền, được cài đặt với cấu hình nhằm đảm bảo vận hành tối đa khả năng vào thời điểm yêu cầu, nhưng trong thực tế lại rời rạc, không kết nối với nhau và được khai thác không đúng với khả năng cho phép. Theo Forrester Research, mức độ tận dụng các hệ thống máy chủ hiện nay trên toàn cầu chỉ đạt 60%.

    Dường như không ít các DN VN đang xây nhà từ trên nóc xuống bằng việc tìm mua các ứng dụng như ERP, CRM, HRM... mà quên mất căn nhà của họ đang lung lay phía dưới. Theo các chuyên gia của Oracle, các ứng dụng này thuộc quá trình tự động hóa DN và chỉ thực sự có ý nghĩa nếu như DN đó đã hoàn tất 2 quá trình không nên thiếu trước đó là Tập Trung Hóa Hạ Tầng CNTT (Infrastructure Consolidation) và Điện Toán Lưới (Grid Computing).

    Các DN cần chuẩn hóa dữ liệu trước, sau đó dùng công nghệ điện toán lưới kết hợp khả năng điện toán của hệ thống như lưu trữ, cơ sở dữ liệu, ứng dụng, v.v... Việc tập trung hóa hạ tầng CNTT ứng dụng điện toán lưới cho phép DN khai thác hiệu quả nhiều hệ thống, thậm chí có thể tăng sức xử lý của các hệ thống máy chủ thương mại lên gấp 10 lần. DN biết khai thác các máy chủ mạnh cùng các công nghệ kết hợp sức mạnh điện toán như RAC, clustering... sẽ giảm thiểu được chi phí mua sắm phần cứng, đồng thời tăng sức mạnh khai thác thông tin.

    Các chuyên gia Oracle nhấn mạnh vai trò của Master Data hay Data Warehouse (DW) - hệ thống tập trung dữ liệu từ nhiều nguồn trong DN. Việc sử dụng DW sẽ tạo ra một "sự thật duy nhất" về thông tin DN và từ kho dữ liệu này DN có thể phân tích các chỉ số hay dùng các công cụ BI (Business Intelligence), BAM (Business Activity Monitoring) để theo dõi các chỉ số cần quan tâm.

    Giai đoạn chuẩn hóa dữ liệu trong DN cũng được nhấn mạnh bởi vì dữ liệu chuẩn hóa không "sạch" thì DN sẽ khó tránh khỏi tình trạng "garbage in, garbage out" (garbage: rác), nghĩa là, dữ liệu đầu vào chỉ là dữ liệu không chính xác hay "rác" thì kết quả phân tích cũng là “rác”, và dĩ nhiên không dùng vào việc ra quyết định trong DN được.

     

    Oracle nhận định không nên hiểu tích hợp chỉ đơn thuần là kết nối CRM với phần mềm kế toán hay SCM, HRM, mà trước hết đối tượng tích hợp là các qui trình kinh doanh (business process). Quan điểm trên cho thấy, việc tích hợp các hệ thống ứng dụng (application system) và tích hợp qui trình kinh doanh là khác nhau. Hay nói cách khác, giữa các ứng dụng luôn tồn tại những lỗ hổng - chính là những qui trình kinh doanh. Vì vậy, trong năm qua, đa số các DN ứng dụng CNTT trên toàn cầu đều quan tâm hàng đầu tới các dự án BPM (Business Process Management - Quản lý qui trình kinh doanh). Đó chính là giai đoạn tích hợp các qui trình kinh doanh.

    Để làm được, không có gì khác hơn là DN cần ứng dụng công nghệ Kiến Trúc Hướng Dịch Vụ (Service-oriented Architecture, viết tắt là SOA). Chính SOA Fusion Middleware của Oracle sẽ đảm nhận vai trò tích hợp các ứng dụng và các qui trình kinh doanh. Bước đi này càng thể hiện cho thấy Oracle đang đi cùng đường với IBM nhưng cũng trở thành đối thủ cạnh tranh trong chiến lược SOA.

    Các chuyên gia của Oracle cũng trình diễn bộ công cụ lập mô hình, mô phỏng và phân tích qui trình kinh doanh ARIS. Theo đó, DN và nhà cung cấp giải pháp có thể thiết kế ra mô hình các qui trình kinh doanh bằng các phần mềm thể hiện lưu đồ như Microsoft Visio; sau đó, dùng ARIS để chạy mô phỏng qui trình muốn kiểm nghiệm trong 1 giai đọan định sẵn. Với các số liệu dựa trên thực tế làm đầu vào, ARIS sẽ chỉ ra các nút thắt (bottleneck) trong các qui trình kinh doanh tích hợp và DN có thể tìm ra các giải pháp cải tiến qui trình.

    Chẳng hạn, với qui trình cho vay vốn của 1 ngân hàng, ARIS sẽ chạy mô phỏng qui trình này theo các bước trong qui trình thực tế: kiểm tra khả năng tín dụng, xác nhận cho vay vốn... với các thông số thực tế như Kiểm Tra Khả Năng Tín Dụng của người vay vốn từ 10 phút đến 2 ngày, Tra Thông Tin Về Khách Hàng... Ví dụ sau khi chạy mô hình này với số lượng hồ sơ xin vay vốn đầu vào là 31 bộ hồ sơ, mà đến cuối ngày ngân hàng đó chỉ xử lý được 20 bộ và còn "kẹt" 10 bộ trong 1 công đoạn nào đó, thì chứng tỏ qui trình này còn thiếu hợp lý và cần cải tiến.

    Một chuyên gia Oracle nhận định: "Trong các điều kiện khác cân bằng nhau, nếu qui trình vay vốn tại ngân hàng A chỉ mất 1 tuần mà tại ngân hàng B mất 2 tuần thì bạn chọn ngân hàng nào? Dĩ nhiên là A. Rõ ràng việc cải tiến qui trình là tối quan trọng trong khả năng nhanh chóng đưa ra sản phẩm, dịch vụ mới của các DN".

    Với việc cung cấp một loạt các hệ thống từ đầu đến cuối (end-to-end solution) và không từ chối giữ vai trò tích hợp nhiều hệ thống của nhiều hãng khác nhau, Oracle là một đối thủ đáng gờm. Ông Hồ Thanh Tùng, tổng giám đốc Oracle VN, cho biết, đến 2008, Oracle sẽ tung ra Fusion application tập trung những tính năng ưu việt nhất từ nhiều sản phẩm mà Oracle đã mua lại trong nhiều năm qua (tiêu biểu có JD Edwards, PeopleSoft, Siebel...).

    Nhiều lựa chọn giải pháp sản xuất ngoại

    Trong vài năm qua, việc triển khai các giải pháp sản xuất (Manufacturing) dường như là “rào cản cuối cùng” trên đường đua ứng dụng ERP. Ngày 18/11/2007, trong khuôn khổ sự kiện “Vietnam Manufacturing Solution Day”, tập đoàn IBM cùng các đối tác - các nhà cung cấp giải pháp như JD Edwards (của Oracle), Infor, Lawson, ICCG, LANSA đã tập trung giới thiệu các giải pháp sản xuất trên nền tảng máy chủ System i của IBM.

    Ông Andy Hiles, giám đốc quan hệ chiến lược khu vực châu Á-Thái Bình Dương của Oracle, cho biết ngày nay các nhà sản xuất hay DN đều là một mắt xích trong một chuỗi giá trị sản xuất (manufacturing value chain). Ông nói: “Cho dù bạn là nhà sản xuất, hay nhà phân phối, bán lẻ, bạn đều cần phải biết thông tin của các đối tác để ra những quyết định hợp lý về xuất nhập hàng hóa, vật tư và nguyên vật liệu. Như vậy, hệ thống thông tin trong quản lý dây chuyền cung ứng giữ vai trò tối quan trọng”. Ông Hiles cho biết hiện hơn 50% khách hàng của JD Edwards (thuộc Oracle) là các công ty sản xuất và phân phối.

       

    Giải pháp phần mềm ổn định không có nghĩa là hệ thống chạy ổn định vì còn vấn đề hạ tầng phần cứng. Những mối quan hệ đối tác lâu năm giữa các nhà cung cấp giải pháp phần mềm Infor, Oracle, Lawson, LANSA với IBM cho thấy vai trò nền tảng phần cứng là điều đáng quan tâm, nhất là khi DN có đủ kinh phí vận hành những hệ thống ERP, CRM, Manufacturing ngoại. IBM cho biết họ đã có gần 27 năm hợp tác với JD Edwards trước khi công ty này bị PeopleSoft và Oracle mua lại. Oracle cũng là đối tác chiến lược hàng đầu của IBM. Còn LANSA là hãng cung cấp ngôn ngữ lập trình cấp cao và công cụ phát triển khởi nghiệp ngay trên hệ thống máy chủ System i đầu tiên (AS/400). Hệ thống System i cũng tích hợp hỗ trợ công nghệ thoại IP (IP Telephony) của hãng 3Com.

     

    Còn ông Pradeep Deshpande, chuyên gia tư vấn kinh doanh cấp cao của Infor - một nhà cung cấp giải pháp sản xuất hàng đầu thế giới trong thị trường tầm trung (Midrange) đã đưa khái niệm giải pháp quản trị sản xuất đến với các DN VN bằng cách nói về nội dung cốt lõi của triết lý Sản Xuất Tinh Gọn (Lean Manufacturing). “Sản xuất tinh gọn (SXTG) chính là triết lý cải tiến không ngừng mà chủ yếu nhất, cốt lõi nhất, là tập trung loại bỏ những hoạt động thừa, không tạo ra giá trị trong dây chuyền giá trị của DN”, ông trình bày trước đám đông DN. Nói cách khác, “SXTG là qui trình phân tích dòng thông tin và vật liệu trong môi trường sản xuất và liên tục cải tiến qui trình này để tạo ra nhiều giá trị hơn cho DN”. Để minh họa, ông đã đưa ra giải pháp “đệm thời gian” (Time Buffer). Trong một dây chuyền DN, có nhiều khâu sản xuất các linh kiện hay bộ phận khác nhau của 1 sản phẩm; sản phẩm chỉ có thể trở thành thành phẩm nếu như hội đủ linh kiện hay các thành phần. Điều này đặt ra bài toán đối với nhiều nhà sản xuất là làm sao quyết định số lượng thành phẩm sản xuất dựa trên hiện trạng thông tin của toàn DN về lưu kho, đơn đặt hàng v.v... “Càng có nhiều sản phẩm thì DN càng tối đa hóa doanh thu. Nhưng DN không chỉ cần tối đa hóa 1 mặt hàng mà còn phải so sánh khả năng sinh lợi của từng dòng hàng để lựa chọn được những hợp đồng giá trị nhất”, ông nói. Chức năng Time Buffer nhằm báo cáo nhanh theo thời gian thực (real-time) cho nhà sản xuất biết tình hình sản xuất, các vướng mắc gặp phải (nhân sự, máy móc, vật liệu…) để họ quyết định tốt nhất về lượng hàng sản xuất tương ứng với doanh thu đáng có. Nếu như ngày nay, quan tâm hàng đầu của các giám đốc điều hành (CEO) là tăng doanh thu chứ không phải lợi nhuận thì các giải pháp Sản Xuất nhắm vào việc tăng doanh thu, giảm giá trị tồn kho và chi phí vận hành sản xuất-kinh doanh.

    Phi Quân

    ID: B0702_46