• Thứ Hai, 07/04/2008 07:18 (GMT+7)

    Ông Chu Tiến Dũng, giám đốc công ty phát triển CVPMQT: Về “Tuyển” và “Dụng” nhân lực CNTT

    Nhân 7 năm hình thành phát triển Công Viên Phần Mềm Quang Trung (CVPMQT), TGVT - PCW sêri B đã trao đổi với giám đốc công ty phát triển CVPMQT Chu Tiến Dũng về nhu cầu và khả năng đáp ứng của nhân sự CNTT hiện nay, không chỉ riêng tại CVPMQT mà cả ngành CNTT-TT

    Thưa ông, hiện nay nguồn lực CNTT thường được chia ra hai khối: tổ chức, cơ quan nhà nước và doanh nghiệp. Vậy nhu cầu về nhân lực có sự khác biệt gì trong hai khối này?

    Những đòi hỏi đó không có gì khác biệt trong khối CQ/TC/DN ứng dụng nhưng khác biệt khá lớn giữa khối ứng dụng và khối sản xuất, kinh doanh, dịch vụ chuyên ngành CNTT. Về yêu cầu chuyên môn CNTT thì không có sự khác biệt lớn giữa CQ/TC và các DN, tuy nhiên nội dung ứng dụng ở các đơn vị là khác nhau vì vậy những người làm CNTT ở các đơn vị ứng dụng rất cần có kiến thức và kinh nghiệm phù hợp với từng lĩnh vực ứng dụng.

    Trong các tiêu chí để đánh giá đơn vị ứng dụng CNTT-TT thành công thuộc giải thưởng CNTT-TT năm 2008 do sở BCVT TP.HCM chủ trì có tiêu chí liên quan đến nhân lực ứng dụng.

    Ở khối ứng dụng CNTT, mặc dù các công việc thiết lập hạ tầng, đầu tư trang thiết bị CNTT, viết PM và thiết lập hệ thống ứng dụng có thể thuê ngoài, nhưng rất cần có một bộ phận CNTT chuyên nghiệp để duy trì, vận hành hệ thống ứng dụng, bảo đảm cho việc ứng dụng được thực hiện theo đúng mục tiêu, hỗ trợ được người ứng dụng đầu cuối.

    Tùy quy mô lớn/nhỏ của đơn vị, bộ phận CNTT của họ cần có CIO hay trưởng bộ phận CNTT và, bộ phận CNTT có thể là phòng, ban hay tổ, nhóm. Bộ phận này quản trị hệ thống và hỗ trợ người dùng là những nhân viên không chuyên CNTT. Người dùng phải được trang bị kiến thức, kỹ năng CNTT. Không quan trọng bằng cấp nhưng đơn vị ứng dụng phải đề ra tiêu chuẩn cho nhân viên về kỹ năng sử dụng các công cụ để ứng dụng CNTT; phải có kế hoạch cập nhật kiến thức, kỹ năng CNTT cho nhân viên thường xuyên; khi có ứng dụng mới phải có khóa đào tạo; nhân viên phải hiểu ứng dụng CNTT trong đơn vị là sống còn... Hiệu quả ứng dụng CNTT phụ thuộc rất lớn vào nguồn nhân lực cho việc triển khai ứng dụng CNTT.

    Không thể phủ nhận vai trò của CIO. Riêng TP.HCM đã có hàng chục nghìn DN ở quy mô cần có CIO. Các DN và cơ sở đào tạo nên có những hợp tác đào tạo CIO và các TC của CIO như câu lạc bộ CIO nên hướng sinh hoạt vào trao đổi kinh nghiệm tổ chức và phát triển hệ thống ứng dụng một cách hiệu quả – công việc quan trọng nhất của CIO.

    Các DN chuyên ngành CNTT có đòi hỏi về nhân sự khác hẳn. Nhân sự CNTT ở đó phải rất chuyên (người thi công mạng, người lập trình, người tư vấn giải pháp, kiến trúc sư hệ thống...). Sau một quá trình công tác, các chuyên viên CNTT cũng trưởng thành, lên chức trưởng nhóm, quản lý dự án hay cao hơn. Những người này tuy dần dà không tiếp tục công việc thi công mạng hay lập trình mà chuyển sang làm việc quản lý nhưng họ vẫn là nhân sự CNTT chính trong bộ khung của DN chuyên ngành. Tất nhiên, DN chuyên ngành CNTT có những nhân sự chuyên ngành khác như kế toán, quản trị, tiếp thị, bán hàng...

    Tại công ty Phát Triển CVPMQT, số nhân sự CNTT chiếm bao nhiêu %, họ làm gì? Ông có thể cho biết tình hình sử dụng nhân lực CNTT tại các DN trong CVPMQT?

    Công ty tôi có 2 khối: trung tâm Viễn Thông và Nghiệp vụ. Trung tâm VT có tới 90% là nhân sự CNTT, VT chuyên nghiệp. Trung tâm vận hành như một DN chuyên ngành CNTT-TT. Khối nghiệp vụ phần lớn là những người không chuyên CNTT nhưng 100% họ được trang bị máy tính và làm việc bằng máy tính, xử lý toàn bộ công việc hàng ngày trực tuyến. Khối này có 1 nhóm nhân sự CNTT hỗ trợ kỹ thuật như ở các đơn vị ứng dụng.

    Các DN trong CVPMQT đều thuộc diện chuyên ngành CNTT. Tỷ lệ nhân sự CNTT chuyên nghiệp chiếm từ 70% – 80%, nhân sự phục vụ chiếm từ 20-30%, tỷ lệ này tuỳ thuộc quy mô DN nhỏ hay lớn. DN lớn thì tỷ lệ người làm công việc chuyên về CNTT cao hơn đối với DN nhỏ. Thông thường những DN mạnh, bộ máy quản lý tốt thì họ có công thức chuẩn cho tỷ lệ giữa bộ phận chuyên sâu CNTT

    Theo ông, các cơ sở đào tạo hiện đã đáp ứng được bao nhiêu % nhu cầu tuyển dụng của các CQ/TC/DN. Phía đơn vị cung ứng nhân lực cần làm gì?

       

     

    CVPMQT đến nay đã thu hút 89 đơn vị CNTT, có trên 11.000 người tham gia học tập và làm việc, trong đó đội ngũ nhân lực CNTT khoảng 3.000 người, nhu cầu tuyển dụng hàng năm về nhân sự khá cao.

    Quy mô CVPMQT theo quy hoạch sẽ hoàn chỉnh hạ tầng về cả văn phòng lẫn nhà ở... cho 20.000 – 25.000 người làm việc. Hiện đã có 11.000 người thường xuyên làm việc ở đây, 3.000 là lao động trực tiếp còn lại là tham gia các khoá đào tạo. Dự báo sau khoảng 5 năm, CVPMQT mới được lấp đầy do nơi này chọn chuyên ngành hẹp. Có điều đáng mừng là tỷ lệ tuyển dụng thành công tại CVPMQT ngày một cao: Tỷ lệ tuyển dụng thành công theo thông báo của các nhà tuyển dụng đầu những năm 2000 là 3% - 5%. Nay, con số đó đã là 10% - 20%.

    Có nhiều lý do như trước kia, DN tuyển chuyên ngành quá hẹp (lập trình C++...), bây giờ nhu cầu trải rộng cho nhiều chuyên môn (từ nhân viên chỉ chuyên nhập liệu cũng được tuyển và tính vào tỷ lệ đó). Tôi dự đoán, một vài năm tới, do nhu cầu thật của thị trường đối tượng cần tuyển này càng được mở rộng với nhiều cấp độ trình độ và chuyên môn khác nhau, và chuyển biến chất lượng trong quá trình đào tạo, thì tỷ lệ được tuyển dụng sẽ có thể đạt 40% - 50%.

    Ngày hội việc làm ngành CNTT tại CVPMQT
    tháng 3/2008

    Chỉ tiêu tuyển sinh chuyên ngành CNTT cho các trường CĐ và ĐH năm 2007 là 17.000, những năm trước, con số này có thể nhỏ hơn. Theo số liệu của bộ Thông Tin và Truyền Thông, đến nay, Việt Nam có khoảng 45.000 kỹ sư CNTT làm việc trong các công ty PM, năm 2000 chỉ có khoảng 1.000 người. Như vậy trong vòng 6-7 năm qua mỗi năm bình quân đã có khoảng 5.000 - 7.000 người được tuyển vào ngành công nghiệp PM. Con số này còn rất nhỏ nhưng so với khoảng 17.000 sinh viên được đào tạo hàng năm thì có thể tạm coi là hợp lý vì số đào tạo ra còn đi vào các đơn vị ứng dụng CNTT, đơn vị phần cứng...

    Hơn nữa, trong số khoảng 5.000 - 7.000 nhân viên CNTT được tuyển dụng hàng năm nói trên còn có cả người “chen ngang”, không nằm trong chỉ tiêu tuyển sinh ngành CNTT. Họ là chuyên gia ngành khác được bồi dưỡng nghiệp vụ và chuyên môn CNTT và tham gia vào đội quân làm PM chuyên nghiệp, lực lượng này cũng rất quan trọng.

    Hiện nay có ý kiến cho rằng có một số bất cập trong việc "tuyển và dụng" nhân sự CNTT tại khối CQ/TC nhà nước, quan điểm của ông về vấn đề này?

    Hoạt động tại mọi mô hình đều cần chuyên nghiệp hóa. Một mặt, các cán bộ tổ chức của CQ/TC nhà nước phải hiểu công việc của nhân sự CNTT để cho họ chức danh cụ thể, để họ có chính danh mà tiện làm việc, phấn đấu và cống hiến.

    Mặt khác, tôi cũng muốn khuyến cáo một giải pháp thay thế: Nên giao việc tổ chức bộ máy và các chức danh nhân sự và định biên nhân sự này cho người thủ trưởng cơ quan, đơn vị quyết định, như thế sẽ có hiệu quả hơn. Còn việc xác định tiêu chuẩn nghề nghiệp nên để các tổ chức xã hội nghề nghiệp xác định, trong đó có nhân sự CNTT.

    Cái gọi là Asociation (tổ chức xã hội nghề nghiệp) ở các nước rất quan trọng. Các tổ chức này thực thi rất nhiều phần việc như xây dựng tiêu chuẩn chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp, cấp chứng chỉ sự phù hợp chất lượng sản phẩm chuyên ngành... CQ/TC/DN cần nhân sự nghiệp vụ nào thì có thể tham khảo từ các tiêu chuẩn mà các tổ chức nghề nghiệp đưa ra mà tuyển dụng, bổ nhiệm.

     

    “Xã hội nên kiên nhẫn với sự nghiệp đào tạo nguồn lực CNTT. Tương lai sẽ tốt vì có sự thích ứng ngày một cao của các trung tâm đào tạo; các DN CNTT hết thờ ơ chờ đợi và đã có những động thái đặt hàng như tài trợ học bổng và nêu yêu cầu; công việc cho ngành công nghiệp CNTT ngày càng đa dạng, người ở cấp độ thấp cũng có cơ hội; dân trí CNTT cao; khối đào tạo phi chính quy ngày càng mạnh...”, ông Chu Tiến Dũng.

     

    Thế An

    ID: B0804_70