• Thứ Năm, 10/06/2010 09:59 (GMT+7)

    Hỗ trợ sản xuất cộng tác

    Hồ Nguyên Đạt
    Giải pháp hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) đang được chú ý như là một trong các giải pháp có thể cải thiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp (DN). Nhưng, với doanh nghiệp sản xuất (DNSX), một hệ thống ERP mạnh nhất cũng chưa đủ để có sức cạnh tranh tốt. Mô hình SX cộng tác sẽ giúp DN gia tăng mức độ tự chủ và hiệu quả SX.

    Thách thức

    Trong cơ chế thị trường, DNSX phải SX theo yêu cầu đa dạng, thường xuyên thay đổi của khách hàng; SX với giá cả hợp lý và quan trọng nhất là SX đúng thời điểm thị trường đang có nhu cầu hoặc đúng thời hạn đặt hàng… là những thách thức cho mỗi doanh nghiệp (DN). Một số vấn đề quan trọng cần lưu ý là:

    Sản xuất cộng tác là khái niệm chỉ việc cộng tác, phối hợp SX giữa các bộ phận hoặc các nhà máy trong nội bộ DN và mối liên hệ, gắn kết giữa DN với các đối tác, khách hàng trực tiếp.

    - Với bên ngoài, DN phải quản lý nguyên vật liệu và các sản phẩm trung gian; Quản lý khâu cung ứng gồm cả phần gia công ngoài để điều tiết giá thành. Cần có sự cộng tác liên tục giữa các khâu kế hoạch - kế toán tài chính - cung ứng - kiểm soát chất lượng và bộ phận SX trực tiếp; Điều phối các kênh phân phối tối ưu hàng tồn, đưa hàng tiếp cận người dùng dễ dàng - đúng thời điểm; Cộng tác với các nhà phân phối sỉ và lẻ, hệ thống quản lý kho bãi, các nhà vận chuyển, xuất nhập khẩu, hải quan; Quan tâm những yếu tố môi trường và xã hội như giao thông, pháp luật, rủi ro môi trường… Gia nhập WTO, các DN Việt Nam phải hiểu toàn cầu hóa, cạnh tranh với “các ông lớn”, hiểu công nghệ và sản phẩm mới, xu hướng tiêu dùng, các chuẩn quốc tế, phải hạ giá thành, phải cộng tác, phối hợp với khách hàng, nhà cung ứng và phân phối và với cả đối thủ (Hình 1)...

    - Bên trong, DN phải liên tục nghiên cứu cải tiến, tối ưu và đa dạng hóa sản phẩm theo nhu cầu và thị hiếu ngày càng cao của khách hàng (phối hợp tốt các bộ phận tìm hiểu thị trường, tiếp thị, kinh doanh, quan hệ khách hàng, nghiên cứu, phát triển, SX); Phải cộng tác và phối hợp đồng bộ, hiệu quả giữa các mắt xích SX, điều tiết sản lượng giữa các nhà máy, địa điểm (phải thấy nhu cầu thị trường qua các đơn đặt hàng, thông tin vận hành của từng nhà máy và địa điểm, hiệu quả của từng bộ phận SX, lượng hàng tồn và nguyên vật liệu, chất lượng đầu ra của thành phẩm); Phải quản lý các vấn đề về con người như văn hóa, thói quen làm việc, trình độ, kiến thức, kỹ năng, chất lượng và sự biến động của nguồn nhân lực.

    Tất cả thông tin đó, DN phải tổng hợp, cập nhật liên tục nên hệ thống CNTT hỗ trợ là không thể thiếu.

    Sản xuất cộng tác

    Sản xuất cộng tác (SXCT - collaborative manufacturing) là khái niệm mới trong nền SX hiện đại, tương tác chặt chẽ giữa các bộ phận của DN, giữa các DN nhằm luôn bảo đảm đáp ứng vừa đủ nhu cầu của thị trường. Phạm vi của khái niệm này bao trùm tất cả các mắt xích trong chuỗi cung ứng. Một hệ thống SXCT đầy đủ phải liên kết chặt chẽ giữa các thông tin vận hành thời gian thực với khâu cung ứng, vòng đời sản phẩm, nhà phân phối và bộ phận quan hệ khách hàng. Áp dụng mô hình và phương thức này, mức độ tự chủ và lợi ích của DN sẽ tăng lên nhiều lần.

    Hình 1: Giản đồ mạng lưới cộng tác

    Mục tiêu

    Muốn áp dụng SXCT, DN cần tìm hiểu, xác định tất cả quy trình trọng yếu trong SX kinh doanh gồm các quy trình nội bộ và quy trình liên hệ trực tiếp với các đối tác, thầu phụ, nhà cung cấp và khách hàng; Tiến hành đánh giá và điều chỉnh các quy trình đó theo hướng tối ưu cho nhu cầu trước mắt và linh động để điều chỉnh dễ dàng theo những thay đổi của thị trường. Để có đánh giá đủ về quy trình hiện hành và điều chỉnh đúng, DN phải xác định các chuẩn và đo được mức độ đáp ứng của các chỉ số hiệu quả trong toàn bộ và từng khâu SX, vận hành.

    Trước đây, dữ liệu dạng này thường được thu thập và tổng hợp bằng tay, trong khi khối lượng thông tin cần thu thập rất lớn nên các báo cáo thường sai hoặc chậm ảnh hưởng đến việc ra quyết định. Hiện nay, trên thị trường đã có những hệ thống ứng dụng CNTT hỗ trợ thu thập, tổng hợp thông tin tự động cùng với các công cụ trợ giúp DN ra quyết định thông minh, có thể gắn kết dễ dàng, đồng bộ toàn hệ thống thông tin (HTTT) DN từ cấp đơn vị SX cho đến quản trị cao nhất. Các DNSX sẽ có cái nhìn xuyên suốt, tức thời về những gì đang diễn ra (trong nội bộ cũng như với các đối tác và khách hàng) và ra được những quyết định, điều chỉnh hợp lý.

    Giải pháp

    ERP ngày càng phổ cập, được nhiều DN sử dụng để quản lý và điều phối vĩ mô, mang lại những lợi ích to lớn. Tuy nhiên, thông tin từ hệ thống này phần nhiều mang tính “tĩnh” và chỉ thể hiện những gì đã diễn ra, chưa phản ánh đầy đủ những diễn tiến “động” trong quá trình vận hành SX rất phức tạp. Với DNSX, một hệ ERP dù mạnh vẫn không đủ vì nó cần các thông tin thời gian thực cập nhật tự động từ tất cả đơn vị SX. Ví dụ, quá trình lên kế hoạch và cân đối sản lượng thường dựa vào thông tin vận hành trước đó (năng suất, khối lượng thành phẩm - bán thành phẩm, nguyên vật liệu tồn kho…) và các đơn đặt hàng. DN tiến hành lập kế hoạch và cân đối sản lượng theo từng thời điểm, từng nhà máy hoặc từng địa điểm SX.

    Kế hoạch này thường áp dụng cho khoảng thời gian khá dài, theo từng quý đối với các DN lớn và theo tháng đối với các DN vừa và nhỏ. Điều này chỉ phù hợp khi thị trường ít biến động. Tuy nhiên, trong cơ chế thị trường đầy cạnh tranh như hiện nay, có rất nhiều rủi ro như khách hàng thay đổi hoặc hủy hợp đồng, nhu cầu của thị trường dễ dàng thay đổi theo nền kinh tế toàn cầu, không thể dự báo chính xác. Do đó, các kế hoạch SX định trước thường không phù hợp và phải được điều chỉnh liên tục bằng tay rất tốn chi phí và kém hiệu quả.

    Thị trường đã có những hệ thống giúp giải quyết tương đối triệt để các vấn đề này: Hệ thống vận hành SX (Manufacturing Execution System - MES); Hệ thống hoạch định kế hoạch SX (Production Planning Scheduler - PPS); Hệ thống thu thập và tích hợp thông tin SX (Manufacturing Integration and Intelligence - MII)… Chúng trợ giúp mạnh mẽ toàn bộ quá trình điều khiển, thu thập thông tin, điều phối SX… tự động, chính xác. Đây là những hệ thống độc lập có thể được triển khai để giải quyết những khó khăn trước mắt của DN. Chúng có thể được tích hợp dễ dàng với nhau và với hệ ERP cấp trên (nếu có), cho thấy bức tranh tổng thể và xuyên suốt (Hình 2). DN có thể rút ngắn thời gian tìm hiểu, lên kế hoạch và ra quyết định theo từng tuần hoặc chỉ một vài ngày, nâng cao sự chủ động, giảm thiểu chi phí và rủi ro, phản ứng kịp thời với diễn tiến thị trường.

    Hình 2: Bức tranh tổng thể về các hệ thống công nghệ thông tin hỗ trợ


    Cân nhắc

    Muốn áp dụng SXCT, đầu tiên phải xác định tình hình hiện tại cũng như định hướng tương lai. Tiếp theo là lựa chọn giải pháp phù hợp, cân nhắc giữa vốn đầu tư cho các hệ thống CNTT cũng như bảo mật và an toàn. Ngoài ra, DN phải có khả năng quản lý những thay đổi, có giải pháp giúp nhân viên vượt qua sức ỳ và tâm lý chống đối khi phải làm việc với hệ thống mới, giải quyết dư thừa nhân sự.

    Chuyển đổi quy trình SX để thích ứng với hệ thống mới cũng đáng quan tâm vì hết sức quan trọng và chiếm khá nhiều thời gian. Khi đưa hệ thống mới vào vận hành một thời gian, DN sẽ thấy được những thay đổi và lợi ích rõ nét. DNSX nên chọn giải pháp khả thi từ các nhà tư vấn, tích hợp hệ thống có kinh nghiệm về cả kỹ thuật lẫn chuyên ngành SX.

    Tham khảo:
    [1] “Co-opetition”, đồng tác giả Adam M. Brandenburger và Barry J. Nalebuff
    [2] “Manufacturing Enterprise Solutions Support for Demand Driven Enterprises” – MESA (Manufacturing Enterprise Solutions Association) White Paper 10.

     

    ID: B1005_50