• Thứ Hai, 05/07/2010 15:05 (GMT+7)

    Thương hiệu phải được “định giá”

    Quỳnh Anh
    Khi sáp nhập công ty, nhượng quyền thương hiệu hoặc lên sàn chứng khoán… thì thương hiệu được định giá theo nhiều cách. Tuy nhiên, giá trị thương hiệu nói chung hiện vẫn chưa được đưa vào hệ thống kế toán…

    Phần tài sản bị bỏ quên

    Theo ông Lâm Trường An, Giám đốc Công ty Cổ phần Định giá và Dịch vụ Tài chính Việt Nam (V.V.F.C) (trước đây là Trung tâm Thẩm định Giá thuộc Bộ Tài chính) thì giá trị của một doanh nghiệp (DN) phải bao gồm cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình.

    Việc định giá DN nhằm: quản lý tài sản, phát hành cổ phiếu ra công chúng, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ, nhượng quyền thương mại, xác định mức thiệt hại trong các tranh chấp về sở hữu trí tuệ, góp vốn vào dự án, đầu tư thành lập DN… Thế nhưng lâu nay, DN chỉ mới quan tâm định giá tài sản hữu hình, còn tài sản vô hình thì gần như bị bỏ quên.

    Để tránh mất vốn (vốn tài sản trí tuệ, vô hình), thua thiệt khi liên doanh với nước ngoài, khi thực hiện các giao dịch mua-bán, và để tránh thất thu thuế của Nhà nước thì việc nhận dạng và xác định đúng giá trị các tài sản vô hình là rất cần thiết. Nó cần được thông qua các đơn vị thẩm định giá.

    Khi thị trường chứng khoán nở rộ thì nhà đầu tư có nhu cầu được nhận những thông tin minh bạch, thể hiện đúng tiềm năng và tài sản của DN. Các hoạt động mua bán, hợp nhất DN cũng phát triển theo… Những sự kiện này cho thấy, triển vọng phát triển của việc định giá còn nhiều tiềm năng.

    Những khoản kế toán chưa ghi nhận

    Ông An cho biết thêm, nguyên tắc xác định giá trị tài sản vô hình hiện nay vẫn chỉ dựa trên cơ sở giá phí (nguyên tắc kế toán chung đã được thừa nhận của Hiệp hội Kế toán Quốc tế). “Ở Việt Nam, giá trị tài sản vô hình được phản ánh trong báo cáo kế toán của DN theo giá phí mà DN đã chi ra để có được tài sản. Do vậy, trong trường hợp DN không bỏ ra các chi phí để tạo tài sản này thì nó không được phản ánh. Như vậy, còn rất nhiều tài sản vô hình, trong đó có thương hiệu thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của doanh nghiệp nhưng chế độ kế toán hiện tại chưa cho phép ghi nhận”.

    Thương hiệu gồm nhãn hiệu và tên thương mại là một tài sản vô hình của doanh nghiệp.
    Nhiều nhà quản lý cũng cho rằng, do DN Việt Nam chưa quan tâm nhiều đến tài sản vô hình cũng như làm thế nào để loại tài sản này mang lại thu nhập cao nhất, hiệu quả nhất, nên việc quan tâm xác định giá tài sản vô hình còn chưa được nhìn nhận đúng mức. Nếu chỉ dựa vào phương pháp chi phí để định giá tài sản, xác định nguyên giá tài sản để đưa vào sổ sách kế toán cho mục đích khấu hao, góp vốn, mua bán, giao khoán, cho thuê, cổ phần hóa DN… thì trong rất nhiều trường hợp, giá trị DN được định chưa đầy đủ.

    Sở dĩ có tình trạng trên là do sự khác biệt giữa khái niệm và nguyên tắc ghi nhận của kế toán về tài sản vô hình. Kế toán ghi nhận giá trị tài sản vô hình là cho phép DN được khấu hao giá trị đó. Nói cách khác, khoản mục này sẽ tạo ra nhiều lợi nhuận cho DN hơn nhờ “lá chắn thuế”.

    Mặt khác, do lịch sử để lại nên trong việc quản trị công ty, các vấn đề liên quan đến tài sản vô hình vẫn còn rất mới, đây cũng là sự lúng túng trong quản lý của Nhà nước. Nguyên do vì Việt Nam chưa có được những DN định giá thật chuyên nghiệp để có thể đưa ra một mức giá xác đáng của những giá trị tài sản vô hình mà một DN đang quản lý, sử dụng, sở hữu…

    Vài phương pháp định giá

    Ông Trần Nam Long ở Viện Khoa học Sở hữu Trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cung cấp một số phương pháp định giá tài sản vô hình (thương hiệu) như sau:

    - Tiếp cận chi phí: là phương pháp ước tính giá trị dựa trên căn cứ các tài liệu, số liệu phản ánh nguồn lực tài chính, nhân lực, vật lực đã đầu tư để tạo ra tài sản đó hoặc các tài sản tương đương.

    Trong cách tiếp cận chi phí có 3 phương pháp định giá cơ bản. Một là định giá dựa trên chi phí quá khứ: giá trị của một tài sản chính là chi phí mà DN đã sử dụng để mua hoặc tạo dựng tài sản đó (ngoại trừ trường hợp DN mua tài sản thì giá trị tài sản được ghi nhận là giá mua, cộng các chi phí hợp lý khác như phí môi giới, thuế, trừ khấu hao…); Hai là dựa trên chi phí thay thế: là chi phí cần sử dụng để tạo ra một chi phí thay thế chính tài sản đó với cùng công năng sử dụng và hiệu quả kinh tế tương đương. Ba là dựa trên chi phí tái tạo: là chi phí cần sử dụng để tạo ra một bản sao của tài sản tại thời điểm định giá.

    Sử dụng nhóm phương pháp tiếp cận chi phí có ưu điểm là số liệu tương đối rõ ràng, cách thức thực hiện đơn giản, dễ thu thập. Nhưng nhược điểm là giá trị xác định được nguyên giá chứ không phải là giá thị trường. Vì thế nó không phản ánh được đặc tính quan trọng nhất của tài sản, là giá trị sử dụng…

    - Tiếp cận thị trường: là phải phân tích, so sánh các giao dịch đối với loại tài sản tương tự để ước lượng giá trị. Cách tiếp cận này chủ yếu dựa trên việc tuân thủ nguyên tắc thay thế. Đó là một người mua thận trọng không bỏ tiền ra để mua một loại tài sản nếu có thể mua một tài sản khác tương đương với giá rẻ hơn! Đánh giá của thị trường là đánh giá cuối cùng.

    - Ngoài ra, có phương pháp không cần phải xây dựng một công thức hoặc mô hình tính toán mà chỉ cần những bằng chứng về giao dịch tương đương, có thể so sánh được trên thị trường. Đó là :

    • Thông qua thị trường chứng khoán: Mọi diễn biến cả ở cấp vĩ mô và vi mô của từng DN đều được phản ánh ngay lập tức vào giá trị cổ phiếu. Và người ta có thể lợi dụng những biến động của cổ phiếu khi tồn tại hoặc vắng mặt một tài sản nào đó để xác định giá trị…

    • Thông qua phân tích giá trị giao dịch toàn bộ hoặc một phần DN: việc chuyển nhượng tài sản trên thị trường thường đi kèm với việc chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần DN. Giá trị giao dịch đã bao gồm cả tiền trả cho tài sản vô hình và hữu hình mang bản chất tiền tệ. Như vậy, có thể xác định giá trị thị trường của tài sản bằng cách phân tích số liệu giao dịch toàn bộ DN hoặc một phần DN. Từ đó, có thể tìm ra được số tiền được dùng để mua bán tài sản vô hình.

    ID: B1006_42