• Thứ Hai, 30/08/2010 18:51 (GMT+7)

    TP.HCM: Cần tăng tính khả thi cho hệ thống chuyển giao công nghệ

    Quỳnh Anh
    Nhằm đưa các đề tài nghiên cứu KHCN vào cuộc sống, ”Sở KHCN TP.HCM đã đặt hàng ĐH Quốc gia TP.HCM xây dựng “Hệ thống chuyển giao công nghệ". Sau một năm thực hiện, các đơn vị liên quan cùng nhau nhìn nhận những điểm hạn chế cần khắc phục.

    Thạc sĩ Bùi Thị Kim Dung trao đổi thêm với ông Nguyễn Hữu Phép, Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin KHCN, Sở KHCN TP.HCM về việc kết hợp xây dựng đề án "Sàn giao dịch Công nghệ", do Sở KHCN TP.HCM giao cho Trung Tâm Thông tin KHCN đang thực hiện nhưng chưa được nghiệm thu.
    Đề án “Xây dựng hệ thống chuyển giao công nghệ” được thực hiện bởi Phòng Thí nghiệm Trọng điểm Quốc gia điều khiển số và Kỹ thuật hệ thống, do Thạc sĩ, Giảng viên ĐH Bách Khoa TP.HCM, Chuyên viên tư vấn và huấn luyện về quản lý Bùi Thị Kim Dung, chủ trì. Sở KHCN TP.HCM đặt hàng thực hiện trong vòng 1 năm (từ tháng 8/2009 đến 8/2010).

    Đề án nhằm phục vụ công tác đổi mới cho các ngành công nghiệp chủ lực trên địa bàn TP.HCM, với các mục tiêu: phát triển toàn diện hệ thống chuyển giao công nghệ thông qua việc thiết lập thể chế và chính sách chuyển giao công nghệ hữu hiệu và năng động ở cấp thành phố; tăng cường toàn diện năng lực chuyển giao công nghệ ở cấp đơn vị tham gia chuyển giao và cá nhân, các bộ trong các đơn vị; Phát triển tổ chức và doanh nghiệp dịch vụ chuyển giao công nghệ, doanh nghiệp khoa học công nghệ nghiên cứu thích nghi và chuyển giao công nghệ và doanh nghiệp chế tạo công nghệ trung gian; phối hợp toàn diện nguồn lực và sự tham gia của các cấp quản lý nhà nước, các đơn vị, cá nhân có liên quan trong quá trình xây dựng hệ thống chuyển giao công nghệ; chia sẻ thông tin và truyền thông rộng rãi với mọi cấp ngành, đơn vị và cá nhân có liên quan…

    Trong quá trình thực hiện đề án, nhóm bà Dung nhìn thấy một số bất cập dựa trên những khảo sát thực tế. Đó là, các tổ chức cung cấp công nghệ và chuyển giao công nghệ hiện gồm: Hội Khoa học Kỹ thuật Xây dựng, Hiệp hội Xây dựng và Vật liệu xây dựng; Hội Y – Dược học; Hội Vô tuyến - Điện tử; Hội Tin học; Hội Cầu - Đường - Cảng; Hội Hoá học… Nhưng cơ cấu chủ yếu là đăng ký hoạt động với Sở KHCN hay tham gia với Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật; Và tham gia thực hiện các nhiệm vụ KHCN do nhà nước cấp kinh phí qua Sở KHCN TP.HCM. Quan hệ với doanh nghiệp sử dụng công nghệ chủ yếu tự phát, rời rạc và không rõ nét; cơ chế hợp tác R&D trong liên hiệp hội chưa được phát huy…

    Một số hạn chế khác mà nhóm tác giả đã ghi nhận như: đội ngũ nhân viên KHCN còn thiếu cán bộ đầu đàn giỏi; đầu tư cho KHCN còn thấp; nhân lực chất lượng cao thiếu; hệ thống dịch vụ KHCN, bao gồm thông tin KHCN, tư vấn chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn, đo lường chất lượng còn yếu; thiếu sự liên kết hữu cơ giữa nghiên cứu KHCN, giáo dục - đào tạo và sản xuất, kinh doanh; thị trường chậm phát triển…

    Nhận xét về kết quả của đề án, ông Phan Minh Tân, Giám đốc Sở KHCN TP.HCM cho rằng, đề án được thực hiện về mặt lý thuyết là dày công, nhưng vẫn còn thiếu tính thực tiễn. Sở KHCN cần đề án đi vào thực tế, với các con số và mô hình thực tế, các giải pháp cụ thể, có thể ứng dụng khả thi trong cuộc sống.

    Ông Nguyễn Quốc Thái, Phó Phòng Quản lý Công nghệ, Sở KHCN TP.HCM, người chủ trì đề án đề nghị chủ nhiệm đề tài chọn một lĩnh vực cụ thể để thực hiện thí điểm, sau đó nếu thành công sẽ nhân rộng. Ông Thái gợi ý chọn lĩnh vực CNTT hoặc ngành Hoá dược. Sở KHCN TP.HCM tiếp tục gia hạn cho đề án đến hết tháng 9/2010 mới kết thúc.

    Tuy nhiên, bà Dung muốn chọn lĩnh vực mang tính tích hợp đồng thời nhiều công nghệ. Bà nhắm tới lĩnh vực vật liệu và thi công xây dựng, ở đó ứng dụng đồng thời công nghệ chế tạo máy, công nghệ điện - điện tử và tự động hoá, CNTT…