• Thứ Tư, 15/09/2010 08:57 (GMT+7)

    Việt Nam trên bản đồ CNTT-TT thế giới 2009-2010

    TS. Lê Trường Tùng
    Việt Nam (VN) - quốc gia có thu nhập trung bình thấp (mới từ nhóm thấp chuyển lên) - vẫn có vị thế đáng kể trong bản đồ CNTT-TT thế giới. VN có các chỉ số CNTT-TT cao nhất trong nhóm nước có thu nhập thấp, và cao hơn nhiều nước có thu nhập cao hơn VN.

    Về môi trường pháp lý, kinh tế - xã hội

     Về nhân lực CNTT-TT: VN xếp thứ 59, giảm 3 bậc so với năm trước. Trong ngành CNTT-TT, nhân lực là yếu tố then chốt, tiếc rằng tiềm năng chưa được hiện thực hóa và chưa được thế giới đánh giá cao.

    Năm 2009, tỷ lệ vi phạm phần mềm toàn cầu tiếp tục tăng thêm 2% lên 43%, VN ở mức 85% và nằm ngoài top 10 quốc gia có tỷ lệ vi phạm cao nhất.

    Chỉ số phát triển CNTT-TT: VN tăng 7 bậc từ 93 lên 86, tăng cao nhất trong các nước khu vực châu Á Thái Bình Dương, được xếp vào mức trung bình (Medium).

    Chỉ số sẵn sàng kết nối - Networked Readiness Index (NRI): Chỉ số NRI được tính từ ba yếu tố: môi trường điều phối và kinh tế vĩ mô cho CNTT-TT, sự sẵn sàng của cá nhân, doanh nghiệp và chính phủ cho việc sử dụng và thụ hưởng CNTT-TT và mức độ sử dụng CNTT-TT. NRI của VN năm 2010 tăng 16 bậc so với năm 2009, từ bậc 70/134 lên 54/133, xếp vị trí cao nhất trong nhóm các nuớc có thu nhập thấp.

    Chỉ số kinh tế số phản ánh “mức độ nắm bắt và sử dụng CNTT-TT cho các ích lợi kinh tế, xã hội”. Việc đánh giá dựa theo các tiêu chí: hạ tầng công nghệ, kinh doanh, văn hóa xã hội, pháp lý, tầm nhìn và chính sách chính phủ, việc sử dụng CNTT-TT từ khách hàng và doanh nghiệp. VN nằm trong danh sách 70 nước được xếp hạng và ở vị trí 62/70, tăng 2 bậc so với năm trước. Trong các tiêu chí, hạ tầng được cải thiện, nhưng tầm nhìn và chính sách của chính phủ bị tụt giảm.

    Về ứng dụng CNTT-TT

    Chỉ số chi phí gộp cho CNTT-TT (ICT Price Basket) được tính theo phần trăm chi phí cơ bản cho điện thoại cố định, di động, Internet trên thu nhập trung bình đầu người. VN xếp thứ 114/154 (tăng 12 bậc) với chi phí trung bình cho viễn thông - Internet chiếm 9,34% thu nhập hàng tháng (11,9%), trong khi đa số các nước chi phí dưới 3%.

    Các chỉ tiêu ứng dụng của VN xếp hạng 75 cho cá nhân, tăng 5 bậc; 46 (doanh nghiệp), tăng 44 bậc và 68 (chính phủ), giảm 20 bậc. Báo cáo đánh giá trong lĩnh vực chính phủ điện tử, mức độ sẵn sàng (thể hiện qua các chính sách) của VN rất cao (xếp thứ 24), nhưng tình trạng ứng dụng còn hạn chế.

    Về công nghiệp – dịch vụ CNTT-TT

    Đánh giá mức độ cạnh tranh dựa trên 6 yếu tố: môi trường kinh doanh, hạ tầng CNTT-TT, nguồn nhân lực, hành lang pháp lý, nghiên cứu phát triển và hỗ trợ của nhà nước trong việc phát triển công nghiệp CNTT-TT. Sau một năm, thứ hạng VN lên vị trí 56 (tăng 5 bậc) trên tổng số 66 nước được xếp hạng, chỉ có 1 nhóm tụt hạng (nguồn nhân lực).

    Năm 2009, cả Hà Nội và TP.HCM đều vào Top 10 (TP.HCM số 5, Hà Nội số 10) về gia công sản phẩm - dịch vụ CNTT-TT. TP.HCM được xem là “hoạt động ổn định” trong lĩnh vực phát triển sản phẩm và kiểm thử phần mềm. Dạng dịch vụ mới nổi khác gắn với tên của TP.HCM là phát triển ứng dụng và bảo trì (ADM - Application Development & Maintenance), lập trình, game và hoạt hình (Animation).

    Tóm lại, dù thứ hạng cạnh tranh nói chung chưa cao, nhưng riêng trong lĩnh vực gia công sản phẩm - dịch vụ CNTT-TT, VN trong đó nổi lên TP.HCM - được đánh giá cao và được xem là điểm đến hấp dẫn cho các đối tác. Ở mức công ty, chưa có công ty VN nào được đưa vào danh sách 100 Global Outsourcing.

    Về viễn thông - Internet

     Xếp hạng chính phủ điện tử năm 2010 của VN là 90/189, tăng 1 bậc so với hai năm trước. Về ứng dụng CNTT-TT, vị trí của VN ở vào tốp giữa.

    Về số lượng người dùng Internet, năm 2010, VN vẫn nằm trong Top 20 nhưng xuống vị trí 19, tụt 1 hạng so với năm 2009. Thống kê tháng 6/2010 cho biết có 49 nước thuộc nhóm 1, 57 nước nhóm 2, 120 nước nhóm 3 và 20 nước nhóm 4. VN đang nằm ở cuối nhóm 2 với tỷ lệ 28,39% nhưng trên mức trung bình thế giới (26,6%), vượt Trung Quốc, Ấn Độ, Phillipines, Thái Lan (nhóm 3). Về tỷ lệ người dùng, VN xếp thứ 116, giữ nguyên thứ hạng của năm trước.

    Về phát triển Internet băng thông rộng, năm 2009 VN xếp thứ 21 về số đường băng thông rộng, tăng 5 bậc so với 2008 và nằm trong Top 10 quốc gia trên thế giới có tốc độ tăng trưởng băng thông rộng cao nhất (xếp thứ 6).

    Về hạ tầng viễn thông - Internet, VN được xem như một quốc gia phát triển tốt hơn hẳn so với các nước có thu nhập thấp. Về chỉ số truy cập CNTT-TT (ICT Access Index 2010 - ITU) VN xếp thứ 72/159, tăng 20 bậc so với cùng kỳ năm trước.

    Sử dụng viễn thông – Internet tính theo tỷ lệ người dùng là một trong các cấu thành của chỉ số phát triển CNTT-TT (ITU). Về chỉ tiêu này (ICT Use Index 2010 - ITU), VN xếp thứ 83/159, tụt hạng 9 bậc.

    Tóm lại, trong lĩnh vực viễn thông – Internet, VN đã lọt vào danh sách các nuớc phát triển tốt. Tuy nhiên tỷ lệ sử dụng Internet và chỉ số giá cả viễn thông vẫn nằm ngoài Top 100.

    Kết luận

    Dù vị thế kinh tế còn kém, thu nhập thấp, CNTT-TT VN được thế giới đánh giá có nền móng không kém, 4 trụ cột tuy có trụ cột vững, có trụ cột còn yếu, trong đó nổi lên các trụ vững là công nghiệp (đặc biệt là gia công), ứng dụng (chính phủ điện tử) và viễn thông Internet (phát triển băng thông rộng). Sau một năm, nhiều tiêu chí đã được cải thiện đáng kể.

    Mục tiêu của chúng ta có lẽ là đến 2015 lọt vào Top 50, những lĩnh vực then chốt vào được Top 20 trên thế giới.

    ID: B1008_64