• Thứ Năm, 04/11/2010 14:21 (GMT+7)

    Việt Nam có quá ít doanh nghiệp phần mềm quy mô lớn

    Vũ Nga
    Những doanh nghiệp quy mô nhỏ không có sự tập trung nhân lực, tài chính, năng lực công nghệ, tri thức chuyên môn, tính bền vững thấp sẽ khó khăn khi tìm kiếm đối tác.

    Hiệp hội Doanh nghiệp Phần mềm Việt Nam (VINASA) đã trải qua 8 năm hoạt động với nhiều kết quả đáng ghi nhận, đặc biệt là sự gia tăng uy tín của ngành trên thị trường quốc tế. Thế nhưng, sự ý phát triển của ngành vẫn chủ yếu theo chiều rộng mà thiếu chiều sâu. Theo số liệu đăng ký kinh doanh thì số doanh nghiệp có đăng ký làm phần mềm và dịch vụ CNTT lên đến trên 10.000. Còn theo VINASA, số doanh nghiệp thực sự chuyên sâu vào hoạt động này khoảng 1.500 doanh nghiệp (trong đó gần 200 doanh nghiệp là hội viên VINASA). Nhưng, phần lớn các công ty này chỉ có từ 10 - 30 lao động. Những doanh nghiệp có quy mô lớn trên 1.000 người chỉ đếm được trên đầu ngón tay như VTC, FPT, VNG…

    Công ty VNG, một trong số ít những doanh nghiệp phần mềm - nội dung số có quy mô trên 500 nhân viên.

    Theo ông Phạm Tấn Công, Tổng Thư ký VINASA, việc chúng ta có quá ít những doanh nghiệp phần mềm quy mô lớn khiến doanh nghiệp nước ngoài khó chọn được đối tác bởi xu thế ngành phần mềm thế giới là thường lựa chọn đối tác là các doanh nghiệp lớn, qui tụ đủ quy mô về nhân lực, công nghệ và có độ ổn định cao. Sự thiếu vắng các doanh nghiệp lớn cũng khiến chúng ta mất khả năng thực hiện các dự án tầm quốc gia và quốc tế, hợp tác và cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn của thế giới. Cũng do quy mô nhỏ nên các doanh nghiệp không có được bộ phận nghiên cứu và phát triển (R&D) riêng, do đó, không tạo được các sản phẩm, dịch vụ mang tính sáng tạo, đột phá.

    Có ý kiến cho rằng, nguyên nhân của thực trạng trên xuất phát từ sự manh mún về quy mô đào tạo và hạ tầng của ngành. Hiện cả nước có 270 trường ĐH, CĐ đào tạo về CNTT với chỉ tiêu mỗi năm khoảng 50 nghìn sinh viên (trung bình 185 sinh viên/đơn vị đào tạo - PV). Do lượng sinh viên ít nên đơn vị đào tạo cũng khó đầu tư cho chất lượng đào tạo, như đào tạo chuyên sâu theo nhiều chuyên ngành… Còn về hạ tầng, đến nay chỉ có duy nhất Công viên Phần mềm Quang Trung (TP.HCM) có sự hoàn thiện về hạ tầng và đạt quy mô đáng kể (quy tụ được trên 100 doanh nghiệp trong ngành), còn lại, các doanh nghiệp phần mềm vẫn chủ yếu đi thuê trụ sở, do đó địa điểm hoạt động phân tán.

    Trên thực tế, chính sách phát triển ngành phần mềm đến 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành (Quyết định 51/2007/QĐ-TTg ban hành ngày 12/4/2007) nhưng dường như việc thực thi các chính sách còn quá chậm. Cho đến tháng 4/2010, Hội đồng tư vấn chính sách phát triển ngành Công nghiệp phần mềm Việt Nam thuộc VINASA mới được thành lập. Chừng ấy thời gian là quá ngắn cho một sáng kiến được thực thi.

    Mong rằng, VINASA với một nhiệm kỳ mới và những sáng kiến đã “nảy chồi” từ nhiệm kỳ trước sẽ tiếp tục được phát huy để ngành phần mềm Việt Nam thành công hơn nữa trên thị trường quốc tế.