• Thứ Tư, 23/03/2011 14:49 (GMT+7)

    Xây dựng mô hình dự báo nhân lực CNTT TP.HCM đến 2020

    H. Vinh
    Sở KHCN TP.HCM đang chỉ đạo một nhóm nghiên cứu xây dựng mô hình dự báo số lượng tuyển sinh ĐH và CĐ CNTT của Việt Nam và TP.HCM, cũng như dự báo số lao động CNTT đến năm 2020.

    Mỏng số lượng, thiếu kỹ năng

    Buổi tọa đàm báo cáo giám định đề tài “Dự báo nguồn nhân lực CNTT cho TP.HCM trong giai đoạn 2011 đến 2020 diễn ra tại ĐH Bách Khoa TP.HCM ngày 22/3/2011.
    Phân tích hiện trạng nguồn nhân lực CNTT của TP.HCM (bao gồm phân loại nguồn nhân lực CNTT, nguồn cung và nhu cầu cho các loại) và dự báo nguồn nhân lực CNTT của TP.HCM giai đoạn 2011-2020 có ý nghĩa rất quan trọng, vì đây là một trong bốn ngành trọng điểm của TP.HCM. Qua đó, hỗ trợ các nhà quản lý nhà nước, các hiệp hội, các cơ sở đào tạo/cung ứng và các doanh nghiệp sử dụng nguồn nhân lực CNTT có thêm các thông tin cần thiết trong việc hoạch định chính sách/chiến lược phát triển và quản lý nguồn nhân lực CNTT.

    Buổi tọa đàm báo cáo giám định đề tài “Dự báo nguồn nhân lực CNTT cho TP.HCM trong giai đoạn 2011 đến 2020” do Trung tâm BR&T - ĐH Bách Khoa thực hiện theo yêu cầu của Sở KHCN TP.HCM. Theo đó, hiện cả nước có hơn 200.000 lao động CNTT-TT, thu nhập thấp nhất là 13.500 USD/người/năm (công nghiệp nội dung số) và cao nhất là 37.500 USD/người/năm (công nghiệp phần cứng). Số lao động tham gia vào công nghiệp phần cứng đạt 110.000 người, phần mềm là 57.000 người và công nghiệp nội dung số là 33.000 người.

    Ngành công nghiệp CNTT có tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 20-25%, ngành công nghiệp phần mềm, trong 10 năm qua, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 35%/năm, công nghiệp nội dung số tăng trên 55%/năm. Tuy nhiên, tốc độ phát triển của các doanh nghiệp không đồng đều: 5% tổng số doanh nghiệp tạo ra doanh số trên 95%, quyết định 100% doanh thu xuất khẩu phần mềm; Nhóm doanh nghiệp có doanh thu cao (hơn 1 triệu USD/năm) chiếm dưới 5% tổng số doanh nghiệp; Nhóm doanh nghiệp có doanh thu vừa (từ hơn 1 tỷ đồng đến dưới 10 tỷ đồng) chiếm 5% tổng số các doanh nghiệp; Nhóm doanh nghiệp có doanh thu thấp (nhỏ hơn 1 tỷ đồng) chiếm hơn 90% tổng số doanh nghiệp.

    Đánh giá nguồn nhân lực CNTT của TP.HCM, TS. Cao Hào Thi, Chủ nhiệm đề tài cho biết, chất lượng nguồn nhân lực CNTT-TT còn kém, nhất là Anh văn và các kỹ năng làm việc. Nguyên nhân chủ yếu là thiếu chuẩn đào tạo chung cho ngành CNTT-TT, thiếu cơ sở vật chất phục vụ đào tạo, mặt bằng lương của ngành CNTT-TT không còn hấp dẫn như trước, số đăng ký dự tuyển vào giảm.

    Các doanh nghiệp cũng cho biết, họ khó có thể tuyển dụng những nhân viên vừa giỏi ngoại ngữ vừa am hiểu chuyên môn CNTT. Với những dự án gia công phần mềm cho nước ngoài, khách hàng thường yêu cầu số lượng nhân viên thực hiện dự án rất đông nhưng đa số doanh nghiệp trong nước thì lực lượng lao động lại quá mỏng. Thậm chí, họ tin tưởng vào đội ngũ kỹ sư phần mềm, sẵn sàng đào tạo thêm, hỗ trợ công nghệ. Tuy nhiên, tâm lý khách hàng vẫn e ngại khi số lượng lao động không đủ đáp ứng. Đối với các sinh viên ra trường, hầu hết cần phải đào tạo bổ sung. Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng ngại đầu tư về con người do lo lắng lao động sẽ nhảy việc sang các công ty có mức lương cao hơn, đặc biệt là những công ty nước ngoài, công ty lớn…

    Định hướng chung đến 2020

    Các sinh viên tham dự kỳ thi sát hạch CNTT theo chuẩn Nhật Bản tại ĐH Văn Lang.
    Định hướng phát triển CNTT do Bộ TTTT ban hành bao gồm các nội dung, phát triển kỹ năng sử dụng CNTT trong toàn dân; Xây dựng hệ thống quản lý điện tử cho các bệnh viện; Xây dựng chính phủ điện tử, đảm bảo cung cấp đầy đủ thông tin cho người dân thông qua cổng thông tin của Chính phủ; Xây dựng và phát triển doanh nghiệp điện tử; Ứng dụng mạnh mẽ CNTT trong các ngành dịch vụ có tính hội nhập cao như ngân hàng, hải quan, hàng không, du lịch, thuế. Ngoài ra, cần xây dựng và phát triển các giao dịch thương mại điện tử, phát triển công nghiệp phần mềm và công nghiệp nội dung thông tin; Phát triển công nghiệp lắp rắp thiết bị điện tử, máy tính, viễn thông, thiết kế sản xuất các linh/phụ kiện cho ngành công nghiệp lắp ráp các thiết bị này.

    Trước yêu cầu thực tế đó, các thành viên của nhóm nghiên cứu đề tài đã gợi ý sử dụng mô hình dự báo nguồn nhân lực CNTT: Mô hình chuỗi thời gian, mô hình nhân quả, mô hình cân đối liên ngành (I-O). Cụ thể, nhóm đã đề xuất định hướng phát triển nguồn nhân lực CNTT của TP.HCM đến 2020: Sẽ tiếp tục nâng cao chất lượng đào tạo đại học và sau đại học về CNTT-TT; Hỗ trợ triển khai các chương trình liên kết đào tạo CNTT-TT với các trường ĐH nước ngoài; Đào tạo bồi dưỡng CNTT cho các chuyên ngành. Ngoài ra, cần nâng cao chất lượng đào tạo về CNTT-TT ở bậc trung học chuyên nghiệp và dạy nghề; Đào tạo về quản lý CNTT-TT và phổ cập tin học cho cán bộ, công chức và viên chức; Dạy tin học và ứng dụng CNTT-TT trong trường phổ thông.

    Theo TS. Thi, dựa trên cơ sở dữ liệu thực tế thu thập, nhóm nghiên cứu xây dựng mô hình chuỗi thời gian và mô hình nhân quả để dự báo số tuyển sinh ĐH và CĐ CNTT của Việt Nam và TP.HCM và xây dựng mô hình cân đối liên ngành I-O để dự báo số lao động CNTT.

    Các doanh nghiệp cũng đề xuất, ngoài dự báo theo dân số thì nhóm nghiên cứu cũng nên xem xét khía cạnh dự báo theo độ tuổi, dự báo theo từng ngành nghề và cần phân tích cụ thể hơn để từ đó phân bổ nguồn lực hợp lý. Ngoài ra, các Nhóm dự án cũng nên xem xét mô hình đào tạo ngoài chính quy, các trường trung cấp, dạy nghề... Thực tế hiện nay, hầu hết các trường ĐH, CĐ trong cả nước đều có chương trình đào tạo liên kết với nước ngoài, chương trình đào tạo tiên tiến và chương trình thi lấy chứng chỉ đào tạo nước ngoài...