• Thứ Sáu, 10/06/2011 20:11 (GMT+7)

    Để Việt Nam không "mắc kẹt" ở mức thu nhập trung bình

    Vũ Nga
    Tại Hội nghị lãnh đạo CNTT – TT Việt Nam, buổi thảo luận sáng 10/6/2011, các diễn giả đề cập nhiều đến nội dung “CNTT-TT trở thành hạ tầng mềm để phát triển kinh tế xã hội”.

    CNTT - một yếu tố giúp nhảy vọt

    Phát biểu tại hội nghị, TS.Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho biết, thời đại công nghiệp hóa có 4 giai đoạn phát triển. Những nước đã đạt đến giai đoạn 4 là Mỹ, Nhật, EU trong khi Việt Nam đang ở giai đoạn 1 của công nghiệp hóa (nghĩa là sản xuất đơn giản dưới sự chỉ dẫn của nước ngoài). Còn lại, nhiều quốc gia trên thế giới như Thái Lan, Malaixia, Brazin, Mexico đang ở giai đoạn 2 (có công nghiệp hỗ trợ nhưng vẫn dưới sự chỉ dẫn của nước ngoài) và loay hoay rất nhiều năm vẫn không thoát ra được giai đoạn này.

    Đây chính là "trần thủy tinh" (hay còn gọi là bẫy thu nhập trung bình) mà nhiều nước "mắc kẹt" đến 30, 40 năm vẫn chưa vượt được qua. Để đề phòng trước cảnh bị rơi vào bẫy thu nhập trung bình, theo ông Thiên, ngoài yếu tố thời đại, nội lực, thì cần đưa việc ứng dụng CNTT trở thành chương trình chiến lược ưu tiên của quốc gia, để CNTT thực hiện vai trò của nó là tạo môi trường cho toàn bộ hoạt động của nền kinh tế. Là nước đi sau, Việt Nam có lợi thế lớn nhờ có thể tận dụng ngay những công nghệ sẵn có của thế giới để nhảy vọt. Nhưng đó mới chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ, theo ông Trần Đình Thiên, là phải có "cấu hình thể chế" tốt. Các quốc gia sớm vượt được “bẫy thu nhập trung bình” như Hàn Quốc, Đài Loan đều có thể chế hiện đại, phục vụ mạnh mẽ cho phát triển.

    Đa dạng góc nhìn về “hạ tầng mềm”

    Chia sẻ tại hội nghị TS.Mai Liêm Trực, nguyên thứ trưởng thường trực Bộ Bưu chính Viễn thông nói: nền kinh tế nào cũng có nguyên liệu đầu vào, qua quá trình xử lý, tạo nên thành phẩm đầu ra. Trong thời đại nông nghiệp, nguyên liệu đầu vào chỉ là đất đai và lao động; chuyển sang thời đại công nghiệp, nguyên liệu đầu vào là vốn, đất đai, lao động; còn trong nền kinh tế tri thức, nguyên liệu gồm tri thức, vốn, đất đai, lao động.

    Tuy nhiên, ông nhấn mạnh, ngay cả khi đã có đủ nguyên liệu đầu vào thì vấn đề quan trọng nhất vẫn là quy trình xử lý, vì vậy, để tiến tới nền kinh tế tri thức thì CNTT phải tham gia vào khâu xử lý (chứ không phải là nguyên liệu đầu vào), để làm cơ sở cho lãnh đạo ra quyết định. Quan niệm như vậy mới mang đúng ý nghĩa CNTT là hạ tầng mềm cho phát triển kinh tế.

    Các diễn giả thảo luận về "CNTT là hạ tầng mềm cho phát triển kinh tế xã hội".

    Để hiểu và thực hiện theo đúng tinh thần “CNTT là hạ tầng mềm”, TS.Mai Liêm Trực cũng nhấn mạnh những điểm cần khắc phục. Thứ nhất, nhận thức thôi chưa đủ mà còn cần có ý chí. Về mặt này, ý chí của chúng ta hiện chưa đủ mạnh, các chính sách của Nhà nước chưa tạo điều kiện cho cạnh tranh lành mạnh. Thứ hai, những người làm về CNTT thường nói về khía cạnh kỹ thuật, công nghệ, chưa nói theo nhu cầu của người dùng. Điều này khiến khối ứng dụng và khối công nghệ không hiểu lẫn nhau.

    Còn theo ông Thomas Lê, Giám đốc phát triển kinh doanh Oracle Việt Nam, hạ tầng CNTT phải bao gồm cả vật thể và phi vật thể. Phi vật thể chính là dữ liệu, là các cổng thông tin để kết nối các dịch vụ. Với quan điểm này, ông lưu ý cần xem lại xem chính sách của ta đã ưu ái phát triển hạ tầng theo cả hai nghĩa như vậy hay chưa.

    Từ góc độ người dân, ông Nguyễn Hùng Cường, Giám đốc phát triển phần mềm, Công ty Harvey Nash lại cho rằng các chỉ tiêu chúng ta đặt ra cần có cả định tính và định lượng. Chẳng hạn, chúng ta đặt ra tiêu chí đến năm 2015, 85% cư dân được phủ sóng băng rộng nhưng chất lượng sóng ra sao, có ổn định không thì không rõ.

    Cũng từ góc nhìn này, ông Lê Hồng Minh, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần tập đoàn Vina cho rằng “hạ tầng phải có người sử dụng”. Do đó, chúng ta cần đưa công cụ (máy tính) để người dân tự sáng tạo, phát triển. Một bộ phận lớn người dân biết sử dụng thành thạo máy tính chính là lực kéo toàn bộ quốc gia đi lên. Ông Minh cũng nhấn mạnh, không thể chỉ căn cứ vào số lượng máy tính trang bị cho mỗi người dân mà phải căn cứ cả vào thời gian và số tiền mỗi người dân dành cho Internet, cả ba tham số đó (số lượng x thời gian x số tiền) mới thể thiện rõ mức độ sử dụng Internet của người dân.

    Mục tiêu phát triển của Việt Nam trong kỷ nguyên số

    Lồng các ý tưởng về phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam bằng CNTT trong trong kỷ nguyên số toàn cầu là một hình ảnh hết sức ý nghĩa và có giá trị mà Hội nghị lãnh đạo CNTT-TT 2011 đã làm được. Tại hội nghị TS.Dan E Khoo, Chủ tịch Liên minh CNTT và Dịch vụ Thế giới đã có bài trình bày rất chi tiết về kỷ nguyên số mà chúng ta đang và sẽ trải qua. Đó là thời đại của báo điện tử/trang tin trực tuyến thay cho báo giấy; của máy ảnh số và thẻ nhớ thay cho phim âm bản; của các file âm nhạc thay cho đĩa CD; thậm chí, còn có các hàng hóa ảo (các vật phẩm trong game)…

    TS.Dan E Khoo nói về "Tương lai hứa hẹn của kỷ nguyên số".

    Không chỉ có vậy, trong kỷ nguyên số còn nảy sinh nhiều khái niệm mới như mạng xã hội, điện toán đám mây… và nó tác động đến đời sống xã hội ngoài sức tưởng tượng của con người: một đứa trẻ 2 tuổi đã có thể nối tiếng trên YouTube; nơi có số dân đông nhất không nằm ở một quốc gia cụ thể nào mà là trên Facebook…, và cả sự xuất hiện của các loại tội phạm mạng.

    “Làm sao để mọi người được hưởng trái ngọt của công nghiệp số hóa” đó là điều mà TS.Dan E Khoo muốn lưu ý những người hoạch định chính sách. Ông cũng cho rằng, Việt Nam đang đứng trước cơ hội để có được một kịch bản các bên đều có lợi nếu biết làm hài hòa các yếu tố chính sách, thể chế, vốn, nguồn lực…

    Từ khóa: Vũ Nga