• Thứ Tư, 03/08/2011 15:56 (GMT+7)

    Để người Việt tin dùng thuốc Việt

    Nguyễn Hà
    Ở Việt Nam, do thiếu công nghệ để sản xuất thuốc đặc trị nên người bệnh phải sử dụng thuốc ngoại nhập với chi phí khá cao.

    Thuốc nội chỉ chiếm 5% trong điều trị...

    Tổng giá trị tiền thuốc ở các bệnh viện trên địa bàn TP.HCM chiếm khoảng 20% tổng lượng tiền thuốc của cả nước. Theo PGS - TS Phạm

    Bà Phạm Thị Việt Nga

    Khánh Phong Lan, Phó Giám đốc Sở Y tế, chi phí tiền thuốc của bệnh nhân chiếm tỉ lệ cao nhất trong điều trị tại bệnh viện.

    Thực tế cho thấy, tại Việt Nam, tiền thuốc thuờng chiếm từ 60 đến 70% tổng chi phí ở một bệnh viện. Ở các quốc gia phát triển, tỉ lệ này chỉ chiếm 20%.

    Theo nhiều đúc kết, chi phí quá cao này là do hai nguyên nhân: cách kê đơn điều trị của bác sĩ; và tâm lý người bệnh muốn sử dụng các loại thuốc ngoại vì nghĩ rằng nó tốt và an toàn.

    Trên thị trường, với cùng chủng loại, công dụng, thành phần, nhưng giá thuốc ngoại thường cao hơn thuốc nội ít nhất từ 2 đến 3 lần,.

    PGS-TS Lan cũng phân tích thêm rằng tại các bệnh viện tuyến thành phố, các bệnh viện đa khoa, chi phí tiền thuốc là các sản phẩm nội chỉ chiếm khoảng 30 đến 40%. Tỷ lệ này ở các bệnh viện chuyên khoa còn thấp hơn nhiều: ở các bệnh viện Mắt, Ung Bướu, Viện Tim… thuốc nội chỉ chiếm 5%! Các nơi đó vốn là những bệnh viện chuyên khoa sâu nên nhu cầu thuốc đặc trị và thuốc độc quyền càng cao. Trong khi đó, trong nước chưa có thế mạnh nên các DN dược vẫn loay hoay tìm hướng đi…

    Thuốc nhỏ mắt loại thông thuờng của Việt Nam giá chỉ vài ngàn đồng, trong khi những sản phẩm chuyên khoa đặc trị của nước ngoài giá hàng chục hoặc hàng trăm ngàn thậm chí lên hàng triệu đồng. Ví dụ như: thuốc nhỏ mắt của của Nhật Bản như Oflovid: 56.000 đồng, Alegysal: 72.500 đồng, Tobrex của Bỉ: 40.500 đồng! Còn thuốc Neodex của Việt Nam có giá chỉ 3.000 đồng. 

    Vì sức khỏe, nhiều bệnh nhân phải chấp nhận dùng thuốc đặc trị ngoại. Nếu không có tiền, họ phải đi vay, muợn, cầm cố tài sản. Nếu không, thậm chí chịu cảnh nằm chờ chết.

    Bà Lan phân tích nguyên nhân dẫn đến việc thuốc nội phải nhuờng thị phần cho thuốc ngoại: “Đa số các DN dược trong nước chỉ chú trọng tới thuốc chuyên dùng và thuốc bào chế. Về sản xuất, các DN của Việt Nam mới chỉ đơn giản nhập nguyên phụ liệu về bào chế thành chế phẩm chứ chưa tự sản xuất ra được nguyên phụ liệu”...

    Các đơn vị tiên phong

    Bà Phạm Khánh Phong Lan
    Hiện tại, cả nước có 101 nhà máy đạt tiêu chuẩn GMP, trong đó TP.HCM có 22 đơn vị đã từng buớc khẳng định chất lượng, đảm bảo cung ứng không chỉ thuốc thông thường, thuốc thiết yếu mà còn từng bước sản xuất các thuốc đặc trị, thuốc ứng dụng công nghệ sinh học.

    Ông Nguyễn Thế Kỷ, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần SPM cho rằng thuốc trong nước đang có thêm cơ hội cạnh tranh với thuốc ngoại nhập từ chất lượng, giá cả đến mẫu mã, bao bì, kiểu dáng. Đây là một biến đổi lớn của ngành dược Việt Nam. Để phát triển mạnh, ngành dược phải có hệ thống phân phối mạnh, sản phẩm đạt chất lượng quốc tế, và có thương hiệu mạnh mới được đông đảo người tiêu dùng tin tưởng.

    “GMP đã trở thành tiêu chuẩn quốc gia bắt buộc. Nếu nhà máy nào chưa đạt GMP thì sẽ khó phát triển. Vấn đề cốt lõi hơn là tốc độ phát triển như thế nào để gìn giữ cho đúng quy chuẩn và uy tín trên thị trường. Kết quả đó phải thông qua sản lượng và lượng tiêu thụ của người tiêu dùng”, ông Kỷ cho biết.

    Ưu tiên công nghệ - kỹ thuật cao

    Bà Phạm Thị Việt Nga, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Dược Hậu Giang cho rằng, để người Việt Nam quan tâm dùng dược phẩm sản xuất trong nước, DN sản xuất cần có những định hướng phù hợp. Đó là tạo lòng tin để thuyết phục các bác sĩ tin tưởng và kê đơn thuốc nội. Để có được chất lượng tốt, phải ưu tiên áp dụng những công nghệ kỹ thuật cao. DN nên sử dụng bao bì chất lượng cao.. Như vậy ngành dược rất cần một khoản đầu tư nâng cao tay nghề, trình độ, công nghệ và kỹ thuật mới sánh vai được với DN dược nước ngoài.

    “GMP đã trở thành tiêu chuẩn quốc gia; bắt buộc nhà máy sản xuất dược nào cũng phải có. Nhà máy nào chưa đạt GMP sẽ khó phát triển”, ông Nguyễn Thế Kỷ , TGĐ Công ty Cổ phần SPM
    Bà nhấn mạnh: “Không nên nói rằng, thuốc nội sẽ thay toàn bộ thuốc ngoại. Chúng ta sẽ thay thế từng phần. Và phần thay thế thì có chất lượng tương đồng”.

    Con người cần hàng ngàn loại thuốc. Nếu người tiêu dùng chỉ dành cho hàng Việt một tỉ lệ 50% thôi, ngành dược Việt Nam sẽ phát triển tốt. Bù lại, người tiêu dùng sẽ giảm được nhiều chi phí.

    GMP (Good Manufacturing Practice: thực hành sản xuất tốt) được áp dụng để quản lý sản xuất trong các ngành: dược phẩm, mỹ phẩm, thiết bị y tế, thực phẩm… GMP là một phần của hệ thống quản lý chất lượng nhằm đảm bảo kiểm soát các điều kiện về: nhà xưởng (cơ sở hạ tầng), con người và kiểm soát các quá trình sản xuất để đạt những tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh. Qua đó sản phẩm cung cấp cho người tiêu dùng có thể loại bỏ những nguy cơ nhiễm chéo và lẫn lộn.

     

     

    ID: B1106_60