• Thứ Hai, 12/01/2004 07:48 (GMT+7)

    CNTT và Lâm nghiệp: Cuộc khai khẩn gian nan

    “Mùa xuân là tết trồng cây

    Làm cho đất nước càng ngày càng xuân”

    (Bác Hồ, Tết Ất Tỵ -1965)

    Đầu xuân, chúng ta cùng nhìn lại CNTT đã làm được những gì cho cây và rừng của chúng ta? 

     

    Bức Tranh Rừng Việt Nam

    Rừng Việt Nam năm 1943 có độ̣ che phủ 43% với diện tích 14,3 triệu ha. Trải qua 2 cuộc chiến tranh giữ nước khốc liệt và những năm khó khăn của thời kỳ hậu chiến, cộng với sự yếu kém về quản lý, rừng bị tàn phá nặng nề (bảng 1). 


    Ts Lại Huy Phương, GĐ CIAS, GĐ TTTVTTLN

    Sau những nỗ lực trong thập niên 90, kết quả cuộc tổng kiểm kê rừng 1998 – 1999 công bố năm 1999 cho thấy diện tích rừng đạt 10,915 triệu ha, độ che phủ rừng toàn quốc đạt 33,2%, xấp xỉ tình trạng 1976. Với vốn rừng như trên, Việt Nam vẫn là nước có chỉ tiêu rừng bình quân đầu người thuộc loại thấp nhất thế giới, chỉ đạt 0,14 ha/người so với chỉ tiêu trung bình của thế giới là 0,97 ha/người. Một kết luận đáng buồn khi người Việt Nam từ xưa vẫn tự hào đất nước ta “rừng vàng biển bạc”!

    Ngày 22/1/2002, bộ trưởng Bộ NN & PTNT đã ra quyết định số 199/QĐ-BNN-PTLN phê duyệt chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2001 – 2010 với một số chỉ tiêu chiến lược của ngành lâm nghiệp giai đoạn 2001- 2010 thể hiện trong bảng 2.

    CNTT đã và có thể làm được  gì cho khối lượng công việc đồ sộ trên?

     

    Những Chặng Đường Ứng Dụng CNTT Trong Lâm  Nghiệp

    Ứng dụng CNTT trong lâm nghiệp có thể chia làm hai giai đoạn.

    Thời kỳ 1970 – 1990: chủ yếu sử dụng máy tính thế hệ 2 như Minsk - 22, Cellatron, Robotron ... để xử lý các số liệu điều tra rừng rất đồ sộ và phức tạp. Có thể kể ra một vài công trình ứng dụng có ý nghĩa kinh tế - kỹ thuật:

    •  Xử lý số liệu đo đếm rừng, phục vụ thống kê tài nguyên của 70 lâm trường trong các năm 1968 - 1975.

    •  Xử lý số liệu đo đếm rừng vù̀ng nguyên liệu cho nhà máy giấy Bãi Bằng (1968 - 1972).

    •  Xử lý số liệu giải tích đo cây rừng để lập biểu thể tích cây gỗ, trọng lượng tre nứa và biểu tăng trưởng rừng (1969 - 1984) trên toàn lãnh thổ. Công trình này còn được áp dụng có hiệu quả trong dự án VIE/76/014 do Liên Hiệp Quốc tài trợ (1979 - 1982).

    •  Năm 1986, một nhóm các kỹ sư lâm nghiệp đã bắt tay vào việc nghiên cứu áp dụng công nghệ GIS và xây dựng thành công chương trình hệ thống xử lí thông tin bản đồ CAMAPS nổi tiếng như ứng dụng GIS đầu tiên và có hiệu quả ở nước ta.

    Thời kỳ 1990 – 2002: với sự đầu tư các máy tính cá nhân (PC), máy chuyên dụng về CNTT phục vụ lâm nghiệp, trạm thu ảnh vệ tinh NOAA..., ngành lâm nghiệp đã có bước tiến đáng kể. Với máy tính cá nhân, ứng dụng CNTT đã bước ra ngoài khuôn khổ Trung Tâm Tư Vấn Thông Tin Lâm Nghiệp (TTTVTTLN) thuộc Viện Điều Tra Quy Hoạch Rừng,  phát triển sang Phân Viện Điều Tra Quy Hoạch Rừng, Cục Kiểm Lâm, Cục Phát Triển Lâm Nghiệp và Viện Khoa Học Kỹ Thuật Lâm Nghiệp, một số chi cục kiểm lâm địa phương như Đồng Nai, Phú Yên, Thanh Hoá, Lào Cai... CNTT được sử dụng vào  quản lý hồ sơ cán bộ, trả lương khoán và theo dõi diễn biến rừng, xử lý số liệu điều tra rừng, xử lý số liệu tài chính lâm nghiệp, số hoá bản đồ, tích hợp các bản đồ để xây dựng thành bản đồ chuyên đề lâm nghiệp, xử lý ảnh vệ tinh trợ giúp xây dựng bản đồ hiện trạng rừng... Một số kết quả quan trọng ứng dụng CNTT của ngành lâm nghiệp trong giai đoạn 1990 - 2002 có thể kể đến như:

    •  Xử lý số liệu điều tra rừng và số liệu lâm nghiệp, đáng kể nhất là các công trình xử lý số liệu ở quy mô hệ thống trong điều tra theo dõi diễn biến tài nguyên rừng (1991 - 2000), kiểm kê rừng tự nhiên toàn quốc theo Nghị Định 286/TTg (1998 - 1999)...

    •  Xây dựng quy hoạch rừng và phân tích diễn biến rừng: phân cấp rừng đầu nguồn toàn quốc sử dụng công nghệ GIS (1994 - 1995); quy hoạch lâm phận phòng hộ đầu nguồn quốc gia (1998 - 1999); thử nghiệm xử lý ảnh vệ tinh NOAA để theo dõi cháy rừng (1997 - 1999); xử lý ảnh vệ tinh số TM để chỉnh lý bản đồ và kiểm kê rừng ở Bình Định, Thanh Hoá, Đồng Nai (1998 - 1999)...

    •  Tổ chức các CSDL và dữ liệu – bản đồ về điều tra cơ bản và quản lý CSDL hồ sơ cán bộ lâm nghiệp (1989 - 1990); CSDL hệ thống các doanh nghiệp nhà nước ngành lâm nghiệp (1992 - 1993); CSDL trồng rừng theo các chương trình PAM (1987 - 1999); CSDL hệ thống rừng phòng hộ và vườn quốc gia (1993 - 1996); CSDL GIS về tài nguyên rừng (1991 - 2000); CSDL quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc (1993 - 1995), CSDL kiểm kê rừng quốc gia (1999 – 2000)...

    •  Năm 1996, ngành kiểm lâm đã triển khai mạng intranet trong toàn ngành tới 58 chi cục kiểm lâm để trao đổi thông tin, chuyển các văn bản, báo cáo theo mẫu quy định giữa cục và các chi cục nhằm giải quyết căn bản vấn đề nhập liệu thống nhất; quản lý số liệu tài nguyên rừng tới tận hạt kiểm lâm cấp huyện.

    •  Năm1998 - 2000, TTTVTTLN đã hoàn thành CSDL GIS của lớp bản đồ nền địa hình cả nước, tạo cơ sở để xây dựng các bản đồ chuyên đề về rừng.

    Tuy nhiên, nhìn lại công cuộc ứng dụng CNTT trong ngành lâm nghiệp, có người đã ví nó như là cuộc khai phá một mảnh đất hoang sơ từ con người đến không gian địa lý, không tiến triển là bao so với những gì mà người trong cuộc đặt niềm tin và hy vọng. Ông Nguyễn Khắc Thắng, cán bộ TTTVTTLN, người đã lăn lộn với ngành hơn 20 năm nhận xét: “Dù đã bỏ nhiều công sức, nhưng hiệu quả ứng dụng phải nhìn nhận là chưa cao”.

     

    Khó khăn từ đâu?

    Có rất nhiều nguyên nhân chi phối quá trình tin học hoá ngành lâm nghiệp. Ông Ngô Ú́t, Viện Trưởng Viện Điều Tra Quy Hoạch Rừng, trong nhóm tác giả của văn bản Chiến lược phát triển lâm nghiệp ở Việt Nam 2001 - 2010 và nhiều chuyên gia lâm nghiệp khác cho rằng khó khăn lớn nhất của quá trình tin học hoá ngành lâm nghiệp  là hạ tầng cơ sở về CNTT trong ngành đến thời điểm này rất yếu vì các đơn vị phân tán, thiếu nhân lực, thiếu kinh phí, và đặc biệt là do hạ tầng cơ sở kinh tế lâm nghiệp kém phát triển.

    Lại nữa, theo TS Lại Huy Phương, GĐ TTTVTTLN, GĐ CIAS (Trung Tâm Liên Ngành Viễn Thám và GIS) là trình độ quản lý yếu kém. Để tin học hóa  hệ thống thông tin quản lý lâm nghiệp, thì chỉ tài chính là không đủ, mà còn phụ thuộc rất nhiều vào việc cải tổ bộ máy quản lý lâm nghiệp, đổi mới nề nếp và nâng cao trình độ quản lý. Nếu không, “hiệu quả ứng dụng CNTT trong lâm nghiệp đã và sẽ còn bị triệt tiêu bởi sự yếu kém của hệ thống quản lý” - ông Phương nói. Một dẫn chứng là ngành lâm nghiệp hiện có rất nhiều tài nguyên - thông tin đầu vào, thu được từ nhiều nguồn khác nhau nhưng không thống nhất, không đủ độ tin cậy, không kịp thời, không đồng bộ, kể cả các bản đồ rừng̣.

    Tiếp đến là vấn đề nhận thức. Kể lại những gian nan trong việc đưa các giải pháp phần mềm tới địa phương, một cán bộ tin học trong ngành lâm nghiệp đã giãi bày: “Chúng tôi phải mất rất nhiều thời gian để thuyết phục, phổ cập tin học cho các cán bộ lâm nghiệp và lãnh đạo ở các địa phương. Phải xới đi xới lại tới vài ba lần mới được kết quả là 1-2 tỉnh trong số 10 tỉnh chấp nhận sử dụng một số chương trình ứng dụng”.

     

    Các công ty tin học việt nam  còn đứng ngoài cuộc?

    Trong số hơn 300 đơn vị làm phần mềm của Việt Nam (theo Niên Giám CNTT VN 2002, PC World VN) hầu như không có một giải pháp phần mềm chuyên nghiệp nào phục vụ lâm nghiệp. Vì sao? Câu hỏi được đặt ra với nhiều giám đốc các công ty phần mềm Việt Nam và câu trả lời là những cái lắc đầu với hàm ý “ở lâm nghiệp chưa có chỗ cho chúng tôi”!

    Thực sự thì vai trò của CNTT còn mờ nhạt trong các chiến lược, đề án phát triển lâm nghiệp của Việt Nam. Đến nay ngành lâm nghiệp chưa có một dự án cụ thể nào phát triển ứng dụng CNTT cho ngành. Để có kinh phí nghiên cứu và phát triển các giải pháp trong ngành lâm nghiệp, các cán bộ tin học thường phải tranh thủ các dự án về lâm nghiệp, và khi dự án kết thúc thì CNTT cũng kết thúc vì không có điều kiện để triển khai tiếp tục. Nếu tinh ý, ta sẽ thấy nhiều kết quả được liệt kê ở trên là những khối dữ liệu đã thu thập rất công phu, nhưng chúng đều đã đóng lại với tháng năm của các dự án. Và thế là chẳng mấy chốc ta về lại điểm xuất phát!

    Khi được hỏi về nguyện vọng bức xúc nhất hiện nay, ông Nguyễn Hồng Quảng, phụ trách Trung Tâm Tin Học của Cục Kiểm Lâm đã không ngần ngại bày tỏ: “Chúng tôi mong muốn hàng năm Bộ có một khoản ngân sách nhất định dành cho việc ứng dụng CNTT trong lâm nghiệp để chúng tôi có điều kiện nghiên cứu phát triển các phần mềm ứng dụng”. Với tình hình ấy việc các công ty tin học Việt Nam khó lòng vào cuộc là chuyện dễ hiểu.

    Tuy nhiên còn một khía cạnh khác. Dù đầu tư cho ứng dụng CNTT trong ngành lâm nghiệp còn có phần hạn chế, vẫn  không ít các dự án có vấn đề ứng dụng CNTT như một thành phần. Nhiều cơ quan ứng dụng trong thời kỳ đầu thường cho rằng có thể tự lo lấy bằng lực lượng của mình. Ngày nay, ngay cả các ngành có lực lượng CNTT và có đầu tư lớn như ngân hàng, tài chính đều tìm đến giải pháp của các công ty tin học chuyên nghiệp.

    Chắc chắn một ngày nào đó sẽ có sự hội ngộ của những ứng dụng CNTT trong lâm nghiệp với lực lượng CNTT chuyên nghiệp.

     

    Đâu là trọng tâm ứng dụng CNTT?

    Chúng tôi rất đồng tình với quan điểm của TS Lại Huy Phương, một trong các chuyên gia CNTT lâu năm nhất của ngành lâm nghiệp: “Trong lộ trình xây dựng nền kinh tế tri thức, trong đó có những ngành kinh tế gắn với lãnh thổ như lâm nghiệp, nông nghiệp, khai khoáng..., thông tin đặc biệt là bản đồ phải được coi là nguồn tài nguyên quốc gia, là hạ tầng cơ sở của hệ thống quản lý. Đầu tiên, cần thu thập và tích hợp thông tin. Bước hai, xử lý để biến thông tin thành tri thức. Bước ba, từ tri thức chuyển thành các quyết định phục vụ quản lý”.

    Theo các chuyên gia về CNTT ngành lâm nghiệp, trọng tâm ứng dụng CNTT hiện nay cần hướng vào các mảng công việc sau:

    •  Theo dõi diễn biến rừng, được cập nhật thường xuyên tại hiện trường trên bản đồ số hoá tỷ lệ 1:25.000 (trên cơ sở phần mềm do Cục Kiểm Lâm kết hợp với TTTVTTLN đã xây dựng, lấy số liệu gốc là kết quả tổng kiểm kê tài nguyên rừng 1999). Số liệu phải được kết nối về các trung tâm tích hợp dữ liệu ở chi cục kiểm lâm tỉnh và kết nối toàn ngành. Vấn đề còn lại là đầu tư hạ tầng CNTT cho cơ sở để khai thác và sử dụng nó trong theo dõi diễn biến rừng có hiệu quả. Ông Lại Huy Phương cho biết: hiện trong 61 tỉnh thành đã có hơn 20 dự án CNTT theo dõi diễn biến rừng được UBND tỉnh phê duyệt. Tuy nhiên,  nhiều địa phương sau khi duyệt vẫn chưa có kinh phí để triển khai. Tại những tỉnh đã triển khai dự án như Đồng Nai, Thanh Hoá, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Phú Yên, Thái Nguyên, Lào Cai... đã có hệ thống thiết bị, hình thành CSDL, quy trình cập nhật thông tin và tiến hành đào tạo cán bộ sử dụng thống nhất một phần mềm theo một chuẩn dữ liệu quốc gia chung. Ở̉̉ Đồng Nai, do đặc điểm các lâm trường quản lý phần lớn diện tích rừng, Chi Cục Kiểm Lâm Đồng Nai đã tự xây dựng thêm một phần mềm theo dõi diễn biến rừng cho các lâm trường (xem bài “Kiểm lâm điện tử và mô hình ở Đồng Nai”). Ngoài ra, các bản đồ rừng số hoá tỷ lệ 1:25.000 dựa trên kết quả kiểm kê 1999 còn nhiều chỗ sai sót cần được chỉnh lý nâng cấp trong quá trình cập nhật hàng năm trên thực địa, kết hợp với ứng dụng kỹ thuật viễn thám.

    •  Xây dựng và tích hợp các CSDL thông tin nhằm nâng cao năng lực quản lý phục vụ dự án trọng điểm Trồng mới 5 triệu ha rừng trên đất trống đồi trọc. 

    •  Về nhân lực CNTT: đào tạo CNTT cho các kiểm lâm viên đang là vấn đề cấp bách, nếu không mọi đầu tư sẽ thành vô ích. Ngoài ra, rất cần có lực lượng nòng cốt về CNTT ở cơ sở. Theo các chuyên gia, mỗi chi cục kiểm lâm tỉnh cần ít nhất hai cán bộ chuyên trách CNTT, ở các lâm trường hoặc hạt kiểm lâm cần 1-2 người bán chuyên trách.

    •  Việc ứng dụng các công nghệ hiện đại như xử lý ảnh vệ tinh thu được từ trạm NOAA để phòng chống cháy rừng đã bước đầu thử nghiệm trong các năm 1997 - 1999, nhưng do thiếu kinh phí và đầu tư cho nghiên cứu cơ bản nên đã dừng lại. Sau thảm hoạ cháy rừng ở Đồng Tháp, An Giang vừa qua, tuy việc đầu tư đã được tiếp tục nhưng cần duy trì liên tục để đạt hiệu quả cao.

    Chúng ta hy vọng chiến lược phát triển lâm nghiệp 2001 - 2010 sẽ thành hiện thực và CNTT đóng góp một phần xứng đáng trong chiến lược này.

    Hà Nội 12/2002

    Thu Hiền – Vũ Ngọc Tiến

    ID: B0301_16