• Thứ Hai, 12/01/2004 06:42 (GMT+7)

    Những tên trộm tại Đồi Thông

    Khoảng năm 1982, Viện Công Nghệ Thông Tin khi đó còn gọi là Viện Khoa Học Tính Toán và Điều Khiển (VKHTT&ĐK), đóng tại Đồi Thông, một khu trong làng Liễu Giai thuộc quận Ba Đình, Hà Nội, nhận được một chiếc máy vi tính của giáo sư Tôn Thất Tùng gửi đến. Đó là chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu OSBORN-1 với màn hình bằng bàn tay. Gọi là máy xách tay nhưng OSBORN-1 khá nặng, chừng 15 kg và có kích thước bằng một khối máy PC hiện nay. Đây không những là một trong những máy vi tính đầu tiên mà còn là máy xách tay đầu tiên xuất hiện tại nước ta.

    Vậy là Viện đã nhận được khối vàng ròng mặc dù chiếc máy này mang màu đen.

    Tuy nhiên, ngoài một nhóm duy nhất gồm hai người của Phòng Khoa Học Thống Kê thuộc VKHTT&ĐK do giáo sư Nguyễn Xuân Lộc phụ trách, không một nhân viên nào của Viện được phép sờ vào hiện vật. Gọi là nhóm cho oai chứ thực ra giáo sư chỉ giao cho anh Nguyễn Quang Hoà, một kỹ sư trẻ mới ở Hungary về được sử dụng. Lịch sử của chiếc máy này như sau:

    Trong một hội nghị y tế quốc tế, giáo sư Tôn Thất Tùng đưa ra những số liệu minh chứng rằng đế quốc Mỹ đã sử dụng chất độc màu da cam tại Việt Nam. Các nhà khoa học trong đoàn Mỹ đã tranh luận khá căng thẳng với chúng ta. Họ cho rằng dữ liệu phía Việt Nam chưa được xử lý tốt. Giáo sư Tôn Thất Tùng đã phản bác mạnh mẽ. Giáo sư kết luận bằng câu nói nổi tiếng sau đây: “Các ngài nên nhớ rằng chúng tôi không cố tình buộc tội chính phủ Mỹ. Thật là hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam nếu Mỹ không rải chất độc xuống đất nước chúng tôi.”

    Các nhà khoa học chân chính phía Mỹ thanh minh rằng thực ra họ luôn luôn sẵn sàng cùng các nhà khoa học Việt Nam tìm các nhân chứng cũng như khảo sát dữ liệu để công bố cho thế giới biết tội ác diệt chủng của đế quốc Mỹ. Tuy nhiên, do chính phủ Mỹ không cho phép họ sang Việt Nam để tiến hành khảo sát nên, để tỏ rõ thiện chí của mình, họ tặng giáo sư một chiếc máy vi tính xách tay để dùng vào việc xử lý dữ liệu chất độc màu da cam.

    Giáo sư Tôn Thất Tùng đã trực tiếp giao máy cho giáo sư Phan Đình Diệu. Và chiếc máy được chuyển tới Phòng Khoa Học Thống Kê của Viện để thực hiện một nhiệm vụ duy nhất là xử lý và bảo quản số liệu thống kê trên các vùng nhiễm độc của Việt Nam.

    Chiếc máy được đặt trong căn phòng tốt hơn cả phòng của lãnh đạo Viện, với hai lần cửa khoá chắc chắn, trải thảm, điều hoà nhiệt độ... Dữ liệu trước và sau khi xử lý được đặt trong một cái tủ bảo mật, có niêm phong cẩn thận. Bản thân máy hàng ngày cũng được niêm phong sau khi sử dụng.

    Chúng tôi nhìn cậu Hoà ra vào phòng máy mà phát thèm.

    Thèm quá hoá khôn!

    Thế là tôi và Ngô Trung Việt, không ai bảo ai, mỗi người lặng lẽ làm riêng một bộ chìa khoá. Sau giờ làm việc, chúng tôi dắt xe đạp ra về đàng hoàng như mọi người. Ra quán nước ăn tạm gói lạc rang hoặc cái bánh đa, uống cà phê thật đặc, gửi xe tại quán qua đêm rồi bí mật trèo tường trở lại Viện, mở khoá và... bật máy.

    Đó là chiếc máy 8 bit gần như không có hệ điều hành mà chỉ có các lệnh điều khiển xen lẫn với các lệnh của ngôn ngữ lập trình BASIC. Không phải là ngôn ngữ BASIC thuộc họ Visual chững chạc như ngày nay đâu, mà nó tựa như ngôn ngữ lập trình FORTRAN nhưng chậm hơn nhiều.

    Không tài liệu hướng dẫn, không hột cơm trong bụng, không thèm chợp mắt, chúng tôi chạy máy tới sáng.

    Sáng ra, niêm phong lại máy, khoá cửa xong chúng tôi lại ra quán ăn lạc và uống nước thay cho phở. Chả hiểu phở Hà Nội được Nguyễn Tuân tả ngon ra sao chứ quanh khu Đồi Thông thời ấy không hề có phở. Mà giả sử có phở đi chăng nữa thì cũng không có tiền để mà... liều.

    Hồi đó Việt mới cưới vợ được vài ngày, nhiều hôm Việt không về nên cô ấy vừa giận vừa thương, tối đến thường trèo tường vào để đưa cơm cho chồng. Còn tôi thì vợ con ở xa, tít tận vùng núi Hoà Bình cho nên muốn thức hay ngủ đều vô tư.

    Sau ba tháng trời như người bay trên mây, tôi cài đặt xong hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ (HCSDLQH) đầu tiên của Việt Nam. Với một đĩa mềm 360Kb tôi lưu trữ bản thân phần mềm và cả CSDL của các mũi khoan địa chất theo địa chỉ ứng dụng của Viện Bảo Tàng và Lưu Trữ Địa Chất Việt Nam (nay là Viện Thông Tin Tư Liệu Địa Chất Việt Nam). Vậy mà hệ thống có đủ đại số quan hệ, có ngôn ngữ chủ để nhúng đại số quan hệ và do vậy có thể làm việc với hai chế độ là hội thoại trực tiếp và theo chương trình. Tôi đặt tên hệ thống là PRIME (nguyên thuỷ) nhằm kỷ niệm một thời tang bồng, phỉ chí, trèo tường, khoét vách. Cũng cần nói thêm là kẻ trộm này hồi đó đã tốt nghiệp phó tiến sĩ tại Trung Tâm Tính Toán Viện Hàn Lâm Khoa Học Liên Xô, nơi chỉ có các hệ máy lớn với hệ điều hành đa nhiệm.

    Một người bạn chiến đấu với tôi hồi đó là Trần Hồng Hải, kỹ sư mới tốt nghiệp ĐH Bách Khoa Hà Nội, mong ước duy nhất của anh lúc đó là được ngồi gõ thử lên bàn phím của một máy vi tính. Cũng nhờ hai người bạn là Hải và Việt mà tôi làm được cái gì đó.

    Việt rất giỏi kỹ thuật. Anh vừa giỏi lý thuyết, vừa thạo thực hành. Anh cũng đọc trực tiếp các sách gốc về toán tin học, triết hôv và thần học chứ ít khi chịu đọc bản dịch. Bận như vậy nhưng bạn có thể nhờ anh chữa hộ một cái đài bán dẫn cũ nát, thậm chí nhờ anh mang búa máy đến nhà đóng hộ một cái đinh treo cuốn lịch vào tường bê tông, anh vẫn vui vẻ nhận lời. Anh ăn theo nhà phật, không thịt cá, rượu chè, nhưng có thể ngồi với bạn trong quán thịt chó Nhật Tân bao lâu tuỳ thích. Anh em trong Phòng CSDL và Lập Trình chúng tôi thật may mắn vì có Việt.

    Tôi chỉ có một đĩa mềm một mặt, mật độ đơn mỏng manh duy nhất nên tôi giữ gìn hơn cả kỷ niệm của người yêu. Vậy mà có lần tôi để quên đĩa ở hàng nước rồi về mãi Hoà Bình thăm con. Nửa đêm sực nhớ ra, tôi phát hoảng. Sớm hôm sau vội vàng vượt trên tám mươi cây số đường núi về Hà Nội. Thời đó muốn đi ô tô phải xếp hàng chừng một ngày. Đến quán nước tìm lại được đĩa thì trẻ con của nhà hàng đã lôi ra chơi xúc cát rồi. Tôi lắp đĩa vào máy thì ôi thôi, máy từ chối đọc.

    Tưởng thế là công toi mấy tháng trời, vậy mà Việt phục chế được. Bạn đọc lưu ý rằng đó là thời kỳ tám mươi của thiên niên kỷ trước.          

    Đến bây giờ nghĩ lại còn thấy rùng mình và không hiểu nổi tại sao mình lại liên tiếp gặp may như vậy. Vì chỉ cần một lỗi nhỏ là mọi công trình mất trắng. Nó mong manh và may rủi hệt như một tấm màng nhện vậy. 

    Lại nói về việc giấu kim trong bọc.

    Vâng, có một ngày thanh tra Trung Ûơng về Viện tôi. Họ lôi ra một hồ sơ, trong đó là danh sách trên hai mươi người ra vào chạy trộm máy chứa các dữ liệu bảo mật quốc gia. Cần nói thêm rằng các dữ liệu về chất độc màu da cam thời đó đúng là dữ liệu mật quốc gia vì nó liên quan đến chính sách của các nước lớn.

    Tôi “lọt lưới”, không có tên trong danh sách.

    Cũng có một đồng chí bảo vệ đề nghị ghi thêm tên tôi vào danh sách. Đồng chí này nói rằng thường thấy tôi lởn vởn gần phòng máy. Chính giáo sư Nguyễn Xuân Lộc lại cứu tôi. Giáo sư khẳng định rằng tôi làm việc nghiêm túc và sau ngày làm việc tôi thường đi bơi với giáo sư ở Hồ Tây.

    Chả hiểu sao giáo sư lại đặc biệt quý tôi như vậy.

    Nhân đây tôi xin lỗi giáo sư vì đã làm một việc khuất tất đồng thời cũng rất cảm ơn giáo sư, vì nhờ chiếc máy OSBORN-1 mà tôi đã có cơ may hoàn thành được một số công việc.

    Cũng có chuyện buồn.

    Mãi ít năm sau này, trong buổi báo cáo nghiệm thu hệ quản trị cơ sở dữ liệu PRIME, có một vị đáng kính phát biểu rằng hệ thống của chúng tôi chẳng có ý nghĩa khoa học nào, bởi vì một hệ soạn thảo văn bản (hồi đó người ta dùng hệ Word Star) cũng có các lệnh cập nhật hệt như vậy, cũng tìm kiếm, tìm và  thay, cũng hiển thị..., việc gì mà phải dùng đến đại số quan hệ hoặc ngôn ngữ vấn tin?!

    Một vị khác phang thêm một câu xanh rờn rằng các lệnh theo lô của tôi cũng giống như một tệp bat trong hệ điều hành, phải chăng chúng tôi đã “đạo tin” các lệnh đó?!

    Các giáo sư Hồ Thuần (Viện CNTT), giáo sư Nguyễn Lãm (Bộ Quốc Phòng), cố giáo sư Nguyễn Văn Ba (ĐHBK HN) và cố giáo sư Nguyễn Bá Hào (ĐHBK HN) thì thích PRIME lắm. Các thầy nói rằng lần đầu tiên có thể thao tác với đại số quan hệ trên PRIME chứ không phải minh hoạ thủ công trên giấy. Chí ít, sinh viên sử dụng hệ này thì cũng tiếp thu nhanh chóng đại số quan hệ. Giáo sư Hồ Thuần sau đó đã cùng với chúng tôi triển khai các kỹ thuật tối ưu hóa biểu thức quan hệ. Giáo sư Nguyễn Lãm đã gọi tôi sang Trung Tâm Tính Toán Bộ Quốc Phòng trình bày một loạt kỹ thuật trong quy trình thiết kế và cài đặt hệ PRIME. Sau đó tiến sĩ̃ Nguyễn Trọng cũng “giam” giáo sư Hồ Thuần và tôi trong cơ sở 2 của Trung Tâm Tính Toán Bộ Quốc Phòng gần tháng trời để trình bày về các quy trình trên, từ lý thuyết đến các chi tiết cài đặt và đánh giá. Tiếp đó, tiến sĩ Tô Tuấn đã thiết kế và cài đặt một hệ quản trị CSDL quan hệ khác trên các giàn máy IBM bằng ngôn ngữ PL1.

    Có lẽ đó là thời kỳ đẹp nhất trong cuộc đời làm khoa học của tôi.

    Một nhà văn có viết: trên đường đời không biết bao nhiêu lần người ta phải nhờ đến một người bạn. Nói đến ơn nghĩa thì nhiều lắm. Chỉ biết rằng đến lượt mình, mình cũng sẽ sẵn sàng vì một người bạn, và khi đó trong lòng mình sẽ reo lên một niềm vui nho nhỏ.

    Hà Nội, Xuân 2003

    PGS Nguyễn Xuân Huy

    ID: B0302_16