• Thứ Hai, 12/01/2004 06:45 (GMT+7)

    Bài học nào là lớn nhất?

    1. Thưở còn là sinh viên tôi vốn rất không ưa máy tính điện tử (MTĐT).

    Năm 1962, như một sinh viên toán được ưu ái, các thầy dắt vào cho xem việc lắp ráp cái MTĐT Strela của trường. Đồ đạc ngổn ngang một phòng lớn. Thầy chỉ cái này là bộ nhớ, cái nọ là bộ xử lý trung tâm. Ý thầy muốn tôi thâm nhập câu chuyện và cùng làm với các thầy. Phần tôi thì chưa hiểu mô tê gì. Thế là về ký túc xá phải tìm đọc cuốn sách đầu tiên về MTĐT. Sau khi tạm hiểu các hệ đếm, cấu trúc cơ bản của MTĐT, nguyên lý tính toán theo chương trình để thực hiện các giải thuật gần đúng cho các bài toán thì tôi hoàn toàn thất vọng và trốn biệt, không bén mảng đến chỗ các thầy đang ráp cái MTĐT của trường.

    Năm 1964, chuyển sang trường khác và không thể trốn mãi cái môn học lập trình, tôi đành phải học nó mà trong bụng vẫn không ưa nó. Lý do đơn giản là tôi không cho đó là môn mà sinh viên toán nên học. Tư duy hoàn toàn khác với tư duy toán học trừu tượng, thói quen của dân học toán.

    Thực ra đó là vì chưa học toán đến nơi thôi!

    2. Bắt đầu cuộc đời dạy học từ 9/1966 tại ĐH Thuỷ Lợi Hà Nội. Đây là thời kỳ chiến tranh phá hoại leo thang ngày càng khốc liệt. Thỉnh thoảng từ nơi sơ tán về Hà Nội thì cánh giảng viên trẻ chúng tôi không bao giờ không ghé hiệu sách ngoại văn và quầy sách cũ ở Tràng Tiền. Vừa có nhiều sách hay vừa có nhiều cô bán sách vẫn rất tươi vui trong tiếng gầm rú của máy bay Mỹ! Một lần tình cờ bắt gặp cuốn sách cũ thật đẹp với lời từ biệt lâm ly của chủ  nhân nó, tựa đề sách là “Máy Tự Động Hữu Hạn”. Tôi chưa hiểu nó nói gì nhưng lời từ biệt não lòng của chủ nhân cũ làm tôi quyết định mua và ôm lên Hà Bắc, nơi trường sơ tán để nghiền ngẫm. Thì ra nó rất hay. Và tôi hiểu rằng mình cần đọc nhiều hơn về những vấn đề liên quan đến MTĐT. Bắt đầu một thời kỳ theo các người đi trước trong lãnh vực này và đọc lung tung, nào là ngôn ngữ hình thức, ngôn ngữ lập trình, chương trình dịch, hệ điều hành, logic toán..., những thứ mà vào cuối những năm 60 ở miền Bắc khá hấp dẫn bọn trẻ chúng tôi.

    3. Tháng 9/1972 tôi đi nghĩa vụ quân sự. Làm lính binh nhì, không lương (khi đó đã có vợ với 1 nhóc là cu Trường Sơn ở IDC bây giờ!) Vào lính thì  việc của 6 tháng đầu là học lăn lê bò toài và bắn súng, 6 tháng tiếp theo đi nhặt xác máy bay Mỹ rơi khắp nơi trên miền Bắc nước ta. Vẫn là binh nhì không lương. Nhiều cô dân quân cùng trong tốp đào bới, kéo xác máy bay Mỹ thấy lạ là sao lại có mấy “ông già”̀ binh nhì (đã 30 tuổi mà!), lúc nào cũng quân hàm (độc mỗi một ngôi sao!), quân hiệu đàng hoàng, ban ngày cũng đi kéo xác máy bay Mỹ, tối về lại đọc sách, xem tướng cho các cụ, các bà, các cô hay đáo để! Tiếng lành đồn xa! Có hôm, các bà, các cô luộc nồi sắn thật ngon bưng đến chỗ mấy “bác” binh nhì và kéo đến thật đông đòi các bác xem tướng, phán quyết hết lượt. Bọn chúng tôi phần lớn là dân toán, hóa, vật lý và đều khá già!

    4. Tôi bắt đầu thực sự cuộc đời làm việc với MTĐT từ đầu năm 1974, sau khá nhiều bậc đàn anh như các anh Phan Đình Diệu, Nguyễn Lãm, ...và khá nhiều bạn như Bạch Hưng Khang, Nguyễn Đức Tích, ... và sau cả một số bạn trẻ hơn (nay cũng đã ngoại ngũ tuần từ hơi lâu rồi) như Trần Văn Huân, Nguyễn Đăng Trình, ...

    Ngày ấy ngây thơ và ít thực tiễn lắm. Trong một cuộc tranh luận vào cuối năm 74, chúng tôi chia hẳn 2 phe. Một phe cho rằng bài toán quản lý nhân sự nên làm bằng cách quản lý lý lịch gốc trong máy tính, phe kia cho rằng MTĐT không thể làm như thế mà chỉ tổng hợp các thống kê theo phân cấp từ dưới lên. Cách quản lý thứ 2 hồi đó là phổ biến, là bài bản. Chẳng bên nào chịu bên nào. Đến năm 1975, sau giải phóng Sài Gòn chúng tôi mới biết là quân đội Sài Gòn đã quản lý lý lịch quân nhân để làm các công việc quản lý nhân sự rất bài bản bằng máy tính từ 1969.

    5. Bài học còn nguyên giá trị đến hôm nay: “lượng đổi thành chất”.

    Trong cả cuộc đời làm việc với MTĐT, có lẽ đây là bài học sâu sắc nhất.

    Quản lý một quán trọ khác xa quản lý một khách sạn 5 sao. Quản lý hộ khẩu một phường hoàn toàn khác bài toán quản lý hộ khẩu thành phố. Ngày nay nhiều người nói đến các bài toán quản lý dân số của một tỉnh, thậm chí cả nước mà nhẹ nhàng như nói về quản lý lý lịch nhân viên của cơ quan mình. Tôi đã từng được đọc đề án quản lý dân số của một tỉnh chỉ khoảng 20 trang giấy. Tôi cũng đã đọc rất kỹ đề án quản lý quân số bằng máy tính điện tử của quân đội Sài Gòn xây dựng năm 1973 gồm 8 pho sách, mỗi cuốn chừng 400 trang. Thực thi hệ thống này là một trung tâm xử lý dữ liệu gồm 500 người và hệ thống khoảng 3000 người được đào tạo chu đáo rải khắp các đơn vị. Chỉ có Tổng Tham Mưu Phó phụ trách quân lực mới có quyền điều động 3500 người này khỏi vị trí của họ. Tất cả họ có nhiệm vụ làm cho các dòng thông tin về nhân sự liên tục chảy đều vào trong máy tính để xử lý.

    Tôi thiết tha mong các nhà lãnh đạo hiểu những vấn đề ứng dụng CNTT vào các hệ thống lớn. Chừng nào chưa hiểu rõ các hệ thống lớn, chừng đó các hệ thống mà chúng ta xây nên rất tốn kém còn có nguy cơ chết yểu rất nặng.

     

    Ts Nguyễn Trọng

    ID: B0302_18