• Thứ Hai, 12/01/2004 07:02 (GMT+7)

    Ngoài 70 xuân ai còn có thể làm CNTT

     “Không thể như thế được!”

    Tôi làm quen với máy tính và lập trình vào đầu năm1963, tức đã gần tròn 40 năm. Lúc đó tôi đang phải tính toán một vỏ mỏng hình dạng đặc biệt làm việc ngoài giới hạn đàn hồi. Bài toán dẫn đến việc giải một hệ phương trình vi phân đạo hàm riêng phi tuyến và tôi loay hoay vật lộn với nó suốt hai tháng trời mà không sao giải được. Ông thầy hướng dẫn khuyên nên dùng máy tính vì Viện tôi thuộc Viện Hàn Lâm Khoa Học Liên Xô, nơi có máy tính mạnh nhất hồi đó là BESM-6. Lại mất hơn một tháng ngồi học lập trình bằng mã máy. Sau đó đánh lộn với các dòng lệnh và cuối cùng thì cũng tự hài lòng với chương trình đầu tiên. Rồi đến khâu thương lượng với mấy cô kỹ thuật viên đục phiếu để được ưu tiên, rồi thì ôm chồng bìa chương trình,  xếp hàng để đưa vào phòng máy và chờ... Và đứng tim mỗi lần cô kỹ thuật viên đưa chồng bìa ra với vẻ mặt đăm chiêu và một câu ngắn gọn: “Chương trình của anh không chạy”. Lại hì hục soát mà nhiều lúc cũng chẳng hiểu soát cái gì và soát ở đâu. Tôi cũng không nhớ là đã bị đứng tim bao lần, nhưng cuối cùng vẫn tay không. Khi thời hạn đã sắp hết thì sực nhớ đến anh bạn cố tri thường cùng nhau “bát phố” thời học trò, anh Nguyễn Bá Hào, đang làm nghiên cứu sinh về máy tính ở đại học Lô-mô-nô-xốp, bèn đến cầu cứu. Hào trấn an: “Không lo! Tớ đang làm Algol, ngôn ngữ cấp cao, sẽ viết cho cậu một chương trình Algol kèm theo luận án, chắc ăn lắm”. May quá, lúc đó máy BESM-6 vừa nhận được chương trình dịch Algol, nên rất vui lòng cho chương trình của tôi chạy đầu tiên. Khi nghe cô kỹ thuật viên thông báo: “Chương trình của anh hay quá, máy của tôi chạy suốt một giờ mà chẳng ra cái gì cả, anh soát lại đi!” thì tôi như bị rớt xuống sông Mátxcơva vào giữa tháng 12! Do lúc đó mù tịt về Algol nên tôi hỏi lại Hào. Hắn ta tỉnh bơ “Không thể như thế được!”. Thế mà lại đúng như vậy đấy! Đến nay mỗi lần nhớ lại vẫn không biết nên cười hay khóc. Còn anh Hào thì đã đi xa...

    “Hay lắm, các cậu nghiên cứu tiếp đi”...

    Năm 1967, các anh Diệu, Lãm và tôi tập hợp tư liệu cùng nhau soạn dự thảo phát triển ngành tính toán (tức tin học hay CNTT như cách gọi hiện nay) ở Việt Nam. Bây giờ thường người ta gọi các tư liệu này là “kế hoạch tổng thể”. Có lẽ đây là kế hoạch quốc gia về tin học thứ hai trên thế giới sau “Plan Calcul” của Pháp ra đời đầu những năm 60 của thế́ kỷ trước. Tài liệu được chuẩn bị khá công phu, tham khảo đủ các thông tin Đông, Tây có được  lúc đó. Tôi lo bản thảo đầu tiên, sau đó các anh Diệu, Lãm bổ sung thêm và lấy ý kiến của một số anh chị khác (thực ra khi ấy chưa có chị nào quan tâm đến tin học, mà chỉ có các anh) và “nộp quyển” cho anh Diệu mang lên báo cáo các cấp lãnh đạo. Bẵng đi một thời gian dài, tôi cũng quên chuyện này thì một hôm anh Diệu báo cho biết: “Các đồng chí lãnh đạo đã xem kỹ, rất hoan nghênh, khen hay và nói ta tiếp tục nghiên cứu đi”. Tôi tròn mắt hỏi lại anh Diệu: “nghiên cứu thêm cái gì?”. Ông Diệu nhún vai trả lời: “Nghiên cứu thêm cái gì thì ông tự biết, hỏi gì tôi vì tôi cũng chẳng biết hơn ông”. Đó là khởi đầu quá trình nghiên cứu xây dựng các loại chính sách, các loại kế hoạch của chúng tôi. Quá trình này tóm tắt như sau: nghiên cứu, xây dựng, biên soạn, báo cáo, rồi cất đi; rồi lại nghiên cứu, xây dựng, báo cáo, rồi cất đi; và cứ thế quá trình lặp này tiếp diễn đến những năm 90. Nhưng bước ngoặt đã xảy ra vào năm 1993 khi ra đời Nghị Quyết số 49 của Chính Phủ mà mọi người đều đã biết. “Hết cơn bĩ cực đã đến tuần thái lai”? Về cái “thái lai” này, nó đến đâu thì mọi người đã bàn nhiều, xin miễn cho tôi nhắc lại.

    Có thể tạm quên vợ đẹp mới cưới, chứ không quên giờ máy

    Cuối năm 1967, máy tính Minsk-22 được lắp đặt xong tại Ủy Ban Khoa Học Kỹ Thuật Nhà Nước (nay là Bộ KH&CN). Đầu năm 1968 bắt đầu khai thác, đem lại niềm vui và phấn khởi không riêng cho giới tin học mà cho toàn thể giới khoa học, kỹ thuật của ta. Số giờ làm việc của máy ngày càng dài. Cao điểm là làm việc ba ca, mỗi ca 8 giờ tức là máy làm việc 24/24. Những người hăng hái, say mê máy nhất là anh em xây dựng, giao thông, khí tượng và quốc phòng, trong đó xây dựng và giao thông được tương đối ưu tiên vì đang thời kỳ “bảo đảm giao thông, chống phá hoại của địch”. Các anh Trần Bình, Nguyễn Văn Ngô, Mai Anh và nhiều anh khác lúc nào trong cặp cũng thủ sẵn vài cuộn băng giấy đã đục sẵn chương trình, chỉ chờ dịp máy rảnh, dù là vài phút,  tranh thủ nhào vô để xin chạy. Những ông tướng này thường xin làm ban đêm, vì lúc đó ít khách hơn. Một đêm mùa đông, vào khoảng hơn 2 giờ khuya, chạy xong máy ra về thì Mai Anh thấy cô vợ trẻ vừa cưới ngồi ngay tại thềm trước cửa nhà 39 Trần Hưng Đạo. Tội nghiệp cô bé ngồi chờ chàng từ 9 giờ tối đến 2 giờ sáng. Tôi biết chuyện, cự nự cậu ta sao lại làm thế, ít ra thì cũng đưa cô ấy vào chờ trong nhà chứ. Ông Mai Anh đáp hồn nhiên: “Em đang chạy máy mà! Đâu dám bỏ, không có mình ở đó thì người khác dành mất”. Ngày nay với các máy vi tính tràn lan, các bạn trẻ không còn “được” chờ lượt vào máy, để có thể quên mọi sự. Nhưng cũng chắc chắn là không ai muốn trở lại thời kỳ ngày xưa đó để hưởng cái “thú” nói trên.

    Sự ra đời của máy vi tính đầu tiên trên thế giới

    Nhiều người biết, và giới tin học quốc tế cũng đã thừa nhận, một trong ba người được coi là đã sáng tạo ra máy vi tính gần đồng thời và độc lập với nhau là anh Trương Trọng Thi, một kỹ sư người Việt định cư ở Pháp. Viện bảo tàng máy tính ở Boston, Hoa Kỳ, vẫn trưng bày một số máy Micral của anh Thi, ra đời từ những năm 70 của thế kỷ trước. Nhưng ít người biết chiếc máy Micral đầu tiên đã ra đời như thế nào. Cuối năm 1970 tôi được cử đi thực tập ở Pháp.

    Một hôm anh Lâm Minh Chiếu, một kỹ sư tin học Việt kiều, rủ tôi đến thăm anh Thi và xem một số máy tính anh mới chế tạo. Gặp nhau, anh Thi rất vui vẻ và mời vào ngay “phòng thí nghiệm” của anh, một cái ga-ra mà anh đã cho xe ôtô di tản ra ngoài để lấy chỗ thử nghiệm với ngổn ngang các mỏ hàn, các tấm bìa đang hàn dở dang linh kiện. Chính ở đây đã ra đời một số máy tính 4 bít, chuyên dùng trong điều khiển, và sau này là phiên bản đầu tiên của máy 8 bít mang tên Micral một thời nổi tiếng không những ở Pháp mà cả trên thế giới. Anh Thi nói  với tôi: “Trong tuần anh bận, nhưng thứ bảy, chủ nhật đến đây phụ tôi hàn, tôi sẽ dạy viết một số mô-đun chương trình. Hoàn thành máy sẽ cho anh một trong những máy đầu tiên”. Lời nói  của anh đã thành hiện thực: năm 1973 anh gửi về tặng cho Ủy Ban Khoa Học Kỹ Thuật Nhà Nước một máy Micral hoàn chỉnh với cả đĩa mềm, đĩa cứng (lúc đó dung lượng chỉ có 5 MB nhưng đã là một kỳ tích). Chiếc máy này được dùng nhiều năm, đến đầu những năm 80 mới nghỉ hưu sau khi Ủy Ban trang bị thêm được những máy 16 bit hiện đại hơn vào năm 1982. Có một chuyện buồn liên quan đến chiếc Micral này. Đầu năm 1990 nhân gặp lại tôi, anh Thi hỏi còn giữ cái máy Micral anh gửi về năm 1973 không, nếu còn cho anh xin lại vì anh cần gửi nó sang Boston. Thú thực tôi không còn biết lúc đó nó nằm ở đâu, mà cả máy Minsk-22, có công rất lớn, cũng như các máy sau này là Minsk-32, Odra cũng không biết số phận cuối cùng của chúng ra sao. Bây giờ vẽ lại lịch sử xây dựng và phát triển CNTT ở nước ta trong 35 năm qua thì những hiện vật quí giá đó không còn nữa. Thật là đáng tiếc.

    Và sự ra đời của máy vi tính Việt Nam đầu tiên

    Từ giữa những năm 70, anh Diệu, lúc ấy là Viện Trưởng Viện Khoa Học Tính Toán và Điều Khiển, thấy được tương lai các hệ vi xử lý trong công nghệ máy tính, nên đã liên tục cử đi đào tạo một loạt cán bộ kỹ thuật trẻ, có năng lực. Trong số này có các anh Nguyễn Chí Công, Trần Bá Thái, Vũ Duy Mẫn, Phạm Ngọc Khôi, Nguyễn Văn Tam, Hồ Tú Bảo v.v... nay đều là những chuyên gia có uy tín trong các lĩnh vực CNTT. Một ê-kíp được thành lập nhằm nghiên cứu, thiết kế và sản xuất thử máy tính 8-bit cả phần cứng, phần mềm hệ thống và một số phần mềm ứng dụng. Anh Công lo phần CPU, Thái lo các đĩa, Mẫn và Khôi lo viết hệ điều hành... Ngoài kiến thức thu được qua các đợt thực tập và trí tuệ của bản thân, nhóm chỉ có một số linh phụ kiện tự thu thập được từ nhiều nơi, nhiều nguồn bằng tiền ít ỏi của mỗi người. Nếu không có sự hỗ trợ thêm thì khó thực hiện kế hoạch. Anh Diệu đã xin gặp Phó Thủ Tướng Võ Nguyên Giáp trình bày và sau đó anh khoe với tôi: “Phó Thủ Tướng đã đồng ý cho 200.000 Francs Pháp để phát triển vi tin học”. Thuở đó, có được như vậy là một ngoại lệ, và nhờ đó chiếc máy vi tính đầu tiên của Việt Nam mang tên ĐT-1 đã ra đời năm 1982 gần đồng thời với máy PC-IBM và hoàn toàn độc lập không sao chép theo một khuôn mẫu nào (ĐT - viết tắt của Đồi Thông là tên địa điểm trụ sở của Viện lúc đó).

    Giá như Micral, ĐT-1 được đi tiếp thì hôm nay công nghiệp máy tính của Việt Nam có lẽ đang ở trong tốp đầu thế giới.

    Ngoài 70 xuân ai còn làm CNTT ?

    Cụ Dorotnitxưn, viện sĩ Liên Xô, là người thầy kính mến của CNTT Việt Nam, người đã cùng giáo sư Tạ Quang Bửu ra công bồi đắp cho lớp cán bộ tin học trẻ đầu tiên của Việt Nam từ những năm 60. Kể rằng khi đã ngoài 70 tuổi, cụ cưới một bà vợ trẻ khoảng 30. Một số học trò thân cận đến chúc mừng cụ. Sau khi hàn huyên các chuyện trên đời, thầy bảo các trò (trong đó nhiều người đã là giáo sư và có người là viện sĩ): “Nếu anh không còn thấy rung động trước người đẹp thì anh đã hết khả năng làm CNTT”.

    Hà Nội, 6/1/2003

    GS Trần Lưu Chương

    ID: B0302_20