• Thứ Năm, 15/01/2004 17:27 (GMT+7)

    Máy Tính Việt Nam có thương hiệu đủ mạnh trong cuộc chiến mới?


    Kiểm tra máy tại phòng kỷ thuật của Elead (FPT) trước khi xuất xưởng

    Năm 2003 đang âm ỉ một cuộc nội chiến ngầm dữ dội trên thị trường máy tính. Nhiều công ty tin học trong nước đã hoặc đang toan tính “xắn tay áo” nhảy vào thị trường này. Trong khi các đại gia máy tính nước ngoài với vị thế về chất lượng sẵn có của mình lại luôn quan tâm tới việc hạ giá thành sản phẩm, máy tính Việt Nam (MTVN) có thương hiệu với tuổi đời còn non trẻ có đủ sức để khẳng định được thương hiệu Việt Nam trên thị trường?

    Chú Bé Hạt Tiêu
    Năm 2002 là năm khá sôi động trên thị trường MTVN. Ước tính lượng tiêu thụ máy tính các loại tại cửa hàng, siêu thị máy tính và các trung tâm phân phối máy tính tăng khoảng 20 - 30% so với năm 2001. Theo ông Hồ Quốc Huệ, phụ trách marketing siêu thị máy tính BlueSky (Hà Nội), có hai nguyên nhân dẫn tới tốc độ tăng trưởng khả quan trên: thứ nhất, do sự hiểu biết của người tiêu dùng về máy tính trong thời gian qua được tăng lên đáng kể; thứ hai, do việc một loạt các tỉnh, thành, bộ, ban, ngành đồng loạt triển khai các dự án tin học hoá và trang bị hệ thống mạng máy tính.
    Thị trường MTVN hiện gồm có 2 loại: máy tính hàng hiệu của các hãng nước ngoài và máy tính do các đơn vị trong nước tự lắp ráp. Ba năm trở lại đây, loại thứ 2 đã tách thành 2 dòng: một là sản phẩm có thương hiệu được đăng ký, lắp ráp trên dây chuyền đồng bộ và hai là sản phẩm “no name”, lắp ráp từ các cửa  hàng, trung tâm máy tính.
    Cho đến thời điểm này, máy tính hàng hiệu tại Việt Nam đã góp mặt hầu như đầy đủ những tên tuổi lớn như: IBM, HP-Compaq, Dell, Acer, Samsung... Dù đã chiếm một thị phần tương đối lớn trên thị trường máy tính Việt Nam, khoảng gần 30%, nhưng các đại gia máy tính nước ngoài vẫn không ngừng tăng năng lực cạnh tranh của mình.


    Khách hàng kiểm tra máy tính trước khi mua tại Siêu thị Tin Học VDC Hà Nội

    Một ví dụ nhỏ với hãng khổng lồ HP (Hewlett-Packard). Nhằm củng cố hơn nữa sức mạnh về dịch vụ tại thị trường Việt Nam, sau cuộc sáp nhập với hãng Compaq, tháng 5/2002, HP Việt Nam đã công bố liên kết với một công ty tin học lớn của Việt Nam là FPT để cung cấp các dịch vụ uỷ quyền cho các dòng sản phẩm của HP tại Việt Nam, trong đó có máy tính cá nhân và máy chủ. Tính đến thời điểm đó HP có hơn 20 đại lý cung cấp dịch vụ và 2 trung tâm bảo hành trên toàn quốc (ngang bằng và hơn một số công ty MTVN có thương hiệu). Chưa hết, tháng 11 vừa qua, HP đã tạo ấn tượng mạnh khi tiếp tục chinh phục thị trường bằng loại sản phẩm hàng hiệu giá nội. Loại máy tính Evo D381mx Microtower được sản xuất dành riêng cho thị trường Đông Nam Á với mức giá rất vừa phải, chỉ 700- 800 USD cho một bộ máy tính. Đây thực sự là một áp lực cạnh tranh khá cao cho dòng MTVN có thương hiệu vốn vẫn coi giá là một ưu thế của mình.

    Khoảng 60% thị trường còn lại đang làm ăn rất sôi nổi với sự góp mặt của hơn 400 cửa hàng, siêu thị máy tính, công ty nhỏ (con số này vẫn tiếp tục tăng hàng ngày) tham gia lắp ráp và cung cấp linh kiện chủ yếu phục vụ cho đối tượng khách mua lẻ. Máy tính Đông Nam Á hay máy tính “no name” có nhược điểm là không đồng bộ, chất lượng không ổn định, độ an toàn không cao. Nhưng để bù lại những hạn chế đó, loại máy tính “no name” thoả mãn hầu như tối đa mọi nhu cầu của khách từ hình thức cho đến các linh kiện lắp ráp bên trong máy mà giá cả thì rất phải chăng. Do những ưu ái như vậy, lại thêm một hệ thống các điểm bán hàng tương đối thuận tiện, dễ lựa chọn nên các cửa hàng đã chiếm lĩnh hầu như toàn bộ đối tượng khách hàng là gia đình, tư nhân và giới học sinh, sinh viên...

    Nhưng để khẳng định một tên tuổi Việt Nam trên thị trường máy tính, chúng ta không thể trông mong vào khối các đơn vị lắp ráp máy tính không tên tuổi này. Rất may chúng ta đã có những người tiên phong xung trận với các tên tuổi đã định hình như: CMS, Robo, Mekong Green, T&H, rồi SingPC (Công ty TNHH Tin Học Thương Mại Sinh Liên), Ruby (Công ty Máy Tính Thuận Quốc), TSC (Thái Sơn Computer), Wiscom (Công ty Cổ Phần Thương Mại Công Nghệ Khai Trí), VEIC (Tổng Công Ty Điện Tử Tin Học VN) ... và mới đây là Elead (FPT), MTVi (Viettronic Tân Bình), VIFCOM (Công ty Máy Tính Việt Nam 1).
    Năm 2002 có thể coi là năm “được mùa” tin học hoá tại các bộ, ban, ngành, khối cơ quan nhà nước và cũng “được mùa” cho MTVN có thương hiệu. Không bỏ qua bất cứ cơ hội nào, mỗi dự án tin học hoá đều được các công ty MTVN quan tâm và dõi theo chặt chẽ. Thậm chí chỉ cần có tín hiệu ở đâu đó đang trình dự án thì ngay lập tức đã có hồ sơ xin tham gia thầu của một công ty MTVN. Chính vì thế mà hiện nay một số đơn vị, cơ quan lớn như: ngành y tế, giáo dục, bảo hiểm, điện lực, ngành tư pháp, khối trường học, thư viện... đang dần trở thành khách hàng ruột của một số thương hiệu MTVN, được các công ty MTVN “bao sân” hầu như toàn bộ trong các dự án cung cấp lớn về máy tính.

    Tất nhiên để thắng các hãng máy tính nước ngoài trong các dự án của Nhà Nước, bản thân các công ty MTVN không thể chỉ cạnh tranh bằng tốc độ nộp hồ sơ hay dựa vào sự ưu ái nào đó của Nhà Nước mà phải cạnh tranh bằng chính công nghệ và giá thành. Trên thực tế, các doanh nghiệp MTVN đã có nhiều nỗ lực đầu tư trong vấn đề phát triển công nghệ với tốc độ đổi mới gần như bám sát với tốc độ thay đổi công nghệ trên thế giới.
    Nếu như năm 2001, lượng MTVN có thương hiệu xuất xưởng khoảng 25.000 - 30.000 chiếc (chiếm khoảng 10% thị phần) thì năm 2002, căn cứ vào số liệu cung cấp từ các công ty, con số này đã tăng lên rất nhiều, ước tính đạt gần 50.000 chiếc với doanh số khoảng trên 375 tỷ đồng. Trong đó, doanh nghiệp có lượng máy tính xuất xưởng trên hoặc xấp xỉ 10.000 chiếc là 2 thương hiệu lớn: CMS và Robo; các thương hiệu khác có số máy tính bán ra dao động từ 3.000 - 7.000 chiếc, đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 20 - 25%.
    Cán cân thị trường máy tính đang được điều chỉnh theo những nỗ lực tích cực của các công ty MTVN. Theo đó, tỷ lệ MTVN có thương hiệu được bán ra trên thị trường năm 2002 rất có thể chiếm đến 15 - 20%. Sinh sau đẻ muộn nhưng MTVN có thương hiệu xét trên cục diện thị trường đang là một đối thủ “bé hạt tiêu”.

    Năng lực cạnh tranh: đã đủ mạnh
    Theo ông Tạ Quang Tiến, cục trưởng Cục Công Nghệ Tin Học Ngân Hàng, để đánh giá về năng lực cạnh tranh của MTVN phải xét trên 3 mặt: chất lượng sản phẩm, giá cả và chất lượng phục vụ.
    Về chất lượng sản phẩm, phần lớn các công ty MTVN như: CMS, Mekong Green, Elead... đều nỗ lực xây dựng một hệ thống quản lý chất lượng đạt tiêu chuẩn ISO, hay chí ít là tiêu chuẩn của hãng cung cấp thiết bị máy tính. Đây chính là điểm khác biệt lớn giữa một thương hiệu máy tính có định hướng đầu tư lâu dài với một đơn vị lắp ráp máy tính không tên tuổi.
    Có thể thấy trong thời gian qua, tốc độ nắm bắt công nghệ của các MTVN đã gần như đuổi kịp hoặc ngang bằng với xu hướng công nghệ trên thế giới. Xin lấy một ví dụ gần đây về sự kiện ra đời bộ vi xử lý Intel Pentium 4  tốc độ 3,06 GHz, tốc độ nhanh nhất hiện nay. Ngay sau công bố của hãng Intel vào đầu tháng 11, gần như đồng thời, hàng loạt các hãng máy tính trong nước như: Elead, CMS, MTVi đã có ngay những thông báo về sản phẩm mới nhất sử dụng công nghệ này. 


    Lắp ráp máy tính tại công ty CMS

    Bên cạnh đó, sự xuất hiện của các hãng thiết bị, linh kiện lớn ngay tại Việt Nam như: ổ cứng Seagate, màn hình Samsung, bo mạch SuperMicro, và đặc biệt sự hậu thuẫn của hãng sản xuất chíp hàng đầu thế giới Intel đã tạo nên lợi thế cho các hãng MTVN rút ngắn cự li nhập khẩu thiết bị, tạo điều kiện hạ giá thành sản phẩm trong công cuộc cạnh tranh tại thị trường nội địa.
    Tuy nhiên, chất lượng lắp ráp lại là chuyện không dễ gì cải thiện được của các công ty MTVN, ít nhất là trong thời điểm này, khi nền công nghiệp thiết bị ở Việt Nam chưa phát triển (PC World B sẽ có bài viết phân tích sâu hơn về vấn đề này trên số báo gần đây). Còn việc nhập một dây chuyền lắp ráp hoàn chỉnh của nước ngoài về lại là bài toán khá nan giải với doanh nghiệp, không chỉ vì thiếu vốn đầu tư mà bởi vì chi phí này sẽ làm đội giá thành sản phẩm lên rất nhiều, giảm tính cạnh tranh của MTVN trên thị trường. Và đây chính là một hạn chế.
    Hầu hết quy mô lắp ráp của các công ty MTVN đều ở mức vừa và nhỏ, nghĩa là mức bán thủ công, “trên công nghiệp tuốc nơ vít một chút” (đánh giá trên một số báo chí lâu nay) với công suất vài chục ngàn máy/năm. Do vậy, tại thị trường dành cho đối tượng khách hàng có yêu cầu cao như ngành ngân hàng hay chứng khoán..., có thể MTVN vẫn chịu sự cạnh tranh ở thế yếu so với hàng hiệu nước ngoài.

    Điều dễ nhận thấy trong thời gian qua là nỗ lực mở rộng hệ thống đại lý, trung tâm bảo hành sản phẩm của các công ty MTVN. Trong khi với các hãng máy tính nước ngoài, đây là điểm hạn chế do “lạ nước lạ cái” và do phải dựa vào hệ thống các nhà cung cấp tại Việt Nam, thì với các công ty máy tính trong nước đây lại là một ưu thế. Đầu tư bài bản và có chất lượng đầu tiên phải kể đến là công ty CMS. Công ty này đã thiết lập 17 trung tâm bảo hành uỷ quyền trên toàn quốc, có đội ngũ kỹ thuật được đào tạo bài bản với thời gian và chất lượng phục vụ theo đúng cam kết bằng văn bản cho khách hàng. Các thương hiệu khác như T&H, Mekong Green, Robo, Elead cũng đều đã và đang xây dựng hệ thống bảo hành và đại lý phân phối trên toàn quốc. Không những thế, tranh thủ lợi thế sân nhà, sẵn nhân lực, sẵn cơ sở, một số công ty MTVN đã đầu tư tối đa cho hệ thống kênh thông tin tư vấn kỹ thuật phục vụ 24/24 giờ cho các khách hàng qua điện thoại và qua Internet. Các công ty MTVN còn không ngừng đầu tư nghiên cứu nhằm tăng thêm các tiện ích cho khách hàng. Là một thương hiệu có doanh số máy tính bán ra cao nhất hiện nay, trong năm qua, với nỗ lực đưa máy tính trở nên gần gũi hơn với người Việt, CMS đã trở thành thương hiệu máy tính duy nhất có sử dụng hệ điều hành tiếng Việt mã nguồn mở Linux. Sau CMS, thương hiệu MTVi cũng tuyên bố sắp tới sẽ đưa hệ điều hành tiếng Việt dựa trên nền Linux vào dòng sản phẩm của mình.

    Về mẫu mã và chủng loại sản phẩm, cho đến thời điểm này MTVN có thương hiệu hầu như đã đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách hàng với nhiều dòng sản phẩm: máy chủ chuyên nghiệp; máy chuyên dùng trong thiết kế đồ hoạ; máy trạm, máy tính dùng trong gia đình, văn phòng... với nhiều mẫu mã, kiểu dáng phong phú. Mặt hàng cao cấp là máy tính xách tay cũng đã sớm được các công ty MTVN đưa ra thị trường vào giữa năm 2002.
    Xét về giá cả, các sản phẩm MTVN có thương hiệu đang ở dòng giữa, nghĩa là cao hơn máy tính lắp ráp “no name” khoảng 50 - 60 USD, nhưng lại rẻ hơn 50 - 60 USD so với dòng máy hiệu. MTVN phần nhiều muốn nhanh chóng chiếm lĩnh được thị trường trong nước. Và mô hình phát triển chuẩn mực nhất mà phần lớn các công ty MTVN có thương hiệu muốn học hỏi chính là hãng máy tính Legend của Trung Quốc. Hãng này đã chiếm lĩnh thị trường máy tính Trung Quốc với một tỷ lệ ngoạn mục là gần 30%, đánh bật các hãng máy tính tên tuổi của nước ngoài (xem bài “Legend làm thay đổi cách nhìn về hàng nội địa”, trang 30). Công ty CMS cũng đã tự đề ra mục tiêu sẽ chiếm lĩnh 10% thị trường nội địa trong một  hai năm tới, còn Elead thì đề ra chiến lược sẽ hợp tác với các thương hiệu khác để nâng tỷ lệ tiêu dùng MTVN có thương hiệu lên 50% vào năm 2005. Mạnh mẽ hơn, Mekong Green còn đưa ra chiến lược xây dựng nhà máy sản xuất và lắp ráp máy tính tại khu công nghệ cao.

    Nhưng để đạt được những mục tiêu đó, bản thân các công ty MTVN đang phải trải qua bộn bề những khó khăn: từ thiếu mặt bằng để sản xuất, kinh doanh đến những bất cập do chính sách thuế, đặc biệt là thuế nhập khẩu linh kiện còn cao, chưa khuyến khích sản xuất trong nước..., rồi những vướng mắc trong thủ tục vay vốn ngân hàng.
    Kinh nghiệm của Legend cho thấy họ thành công được là nhờ 4 yếu tố: giá thấp, chủng loại đa dạng, phần mềm tiện ích và mạng lưới phân phối rộng khắp. Ba yếu tố sau, các doanh nghiệp VN lắp ráp máy tính có thương hiệu hoàn toàn có thể tự xây dựng được, nhưng còn hạ giá thành sản phẩm là bài toán nan giải mà những doanh nghiệp ở tầm vừa và nhỏ như hiện nay một mình không thể tự giải.
    Theo lời ông Lê Hồng Phương, giám đốc công ty Cổ Phần Đầu Tư Phát Triển Công Nghệ Robo: “MTVN có thương hiệu đang phải chịu những áp lực cạnh tranh rất mạnh của thị trường, ngoài nỗ lực hết mình các doanh nghiệp chỉ mong được người tiêu dùng cũng hết mình ủng hộ sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam”.

    Nhưng không lẽ MTVN có thương hiệu lại nằm ngoài chiến lược phát triển ngành công nghiệp của Việt Nam? Thành công của thương hiệu MTVN chắc chắn không chỉ là thành công riêng của một doanh nghiệp mà là của cả nền công nghiệp phần cứng Việt Nam. Và để MTVN có thương hiệu có năng lực cạnh tranh đủ mạnh, nhất thiết các doanh nghiệp lắp ráp máy tính không thể vượt cạn một mình mà cần có những chính sách hỗ trợ rất cụ thể từ phía Nhà Nước và Chính Phủ.

    Thu Hiền

    ID: B0303_19