• Thứ Năm, 15/01/2004 16:40 (GMT+7)

    Lộ trình ứng dụng cntt ngành dầu khí

    Dầu khí là một ngành công nghiệp hiện đại, góp khoảng 10% vào GDP cả nước. Hãy cùng xem bức tranh toàn cảnh CNTT trong môi trường hấp dẫn này.

     

    Lộ trình ứng dụng CNTT ngành dầu khí

    Năm 2003 Việt Nam sẽ đạt sản lượng 20,86 triệu tấn dầu qui đổi (17,6 triệu tấn dầu thô và 3,7 tỷ m3 khí) (theo báo Hà Nội Mới, 3/3/2003). Hai năm đầu thế kỷ (2001-2002), ta đã thăm dò phát hiện thêm 70 triệu tấn dầu, hàng chục tỷ m3 khí và sẽ còn phát hiện thêm nữa, bổ sung vào kho trữ lượng quốc gia.

    Từ năm 1960, một đội ngũ thăm dò dầu khí ở đồng bằng sông Hồng đã  ra đời. Cuộc tìm kiếm bất thành trong đất liền thời đó đã cho ta kinh nghiệm và lực lượng để năm 1975 tiến ra thăm dò, khai thác thềm lục địa. Đến nay, bức tranh số hoá thềm lục địa đã định hình rõ nét, bao gồm các bể trầm tích có khả năng chứa dầu: sông Hồng, Phú Khánh, Nam Côn Sơn, Cửu Long, Ma Lay - Thổ Chu, Tư Chính - Vũng Mây. Tổng trữ lượng theo tính toán đến thời điểm 12/2002 là 550 triệu tấn dầu thô và 610 tỷ m3 khí. Từ nhiều năm qua, ta đã mở cửa liên doanh với nước ngoài để khai thác dầu và khí đốt ở 6 khu mỏ: Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng, Hồng Ngọc, Rạng Đông, Bunga Kekwa - Cái Nước và chuẩn bị khai thác mỏ khí Lan Tây - Cái Nước. Cuối năm 2003 có thể sẽ khai thác mỏ dầu Sư Tử Đen.

     

    35 năm gắn bó

    Từ năm 1968, do nhu cầu xử lý một khối lượng tài liệu đồ sộ khi thăm dò dầu khí ở đồng bằng sông Hồng, tại Liên Đoàn Địa Chất 36 (tiền thân của Tổng Công Ty Dầu Khí Việt Nam) và Cục Vật Lý Địa Chất đã xuất hiện một nhóm gồm các ông Nguyễn Cao, Nguyễn Khắc Đăng, Cao Kim Ánh, Nguyễn Công Sứ... áp dụng các thuật toán thống kê, nhận dạng để xây dựng các chương trình đơn lẻ xử lý tài liệu địa chấn, trọng lực, điện trên máy tính Minsk 22 và Minsk 32.

    10 năm đầu sau giải phóng miền Nam (1975-1985) là giai đoạn ta chủ động triển khai thăm dò dầu khí thềm lục địa ở vịnh Bắc Bộ và Nam Bộ. Để xử lý các băng từ địa chấn, karota lỗ khoan, lực lượng tính toán trên máy tính IBM 360 được bổ sung các ông Hà Quốc Quân, Phạm Kim Trung, Nguyễn Vũ Sơn..., tổng cộng khoảng 20 người. Nhờ kết quả xử lý và minh giải địa chất, một số cấu tạo chứa dầu đã được xác định và tính toán trữ lượng, mô phỏng mỏ trên máy IBM 360. Kết quả này làm tiền đề cho sự ra đời Liên Doanh Khai Thác Dầu Khí Việt - Xô và làm cơ sở chia lô gọi thầu với các hãng dầu nước ngoài.

    Năm 1985, với sự giúp đỡ của chuyên gia Liên Xô, ngành dầu khí thành lập Trung Tâm Tính Toán và Xử Lý Số Liệu Địa Vật Lý. Phần cứng vẫn là máy IBM 360 và một số thiết bị ngoại vi như máy đọc băng từ, máy vẽ bản đồ, lát cắt địa chất của Nga. Phần mềm là bộ chương trình của Mỹ đã được các chuyên gia Liên Xô cải tiến, có nhiều phần viết lại gần như mới và một số chương trình do các cán bộ Việt Nam xây dựng. Tuy nhiên, công nghệ phần mềm và phần cứng của Liên Xô thời đó còn chậm so với thế giới. Đến năm 1988, thay vì được đầu tư nâng cấp, Trung Tâm trên bị giải tán, mọi số liệu đều phải đem đi xử lý ở nước ngoài như các trung tâm Houston (Mỹ), Dubai (Tiểu Vương Quốc Arập), Kuala Lumpur (Malaysia), Bangkok (Thái Lan), Xakhalin (Liên Xô cũ)... Các phần mềm mô phỏng mỏ, điều hành khai thác cũng đều mua của nước ngoài.


    Năm 1996 đánh dấu bước chuyển đột biến về ứng dụng CNTT trong ngành dầu khí. Các ứng dụng có thể chia ra những mảng sau:

    Thành lập ngân hàng dữ liệu dầu khí với hai dự án lớn do Trung Tâm Thông Tin - Tư Liệu Dầu Khí làm chủ đầu tư: dự án hợp tác với Nhật Bản xây dựng cơ sở dữ liệu thăm dò và khai thác (1996-2001), và dự án phục chế các băng từ đã ghi ở nhiều giai đoạn với nhiều thế hệ máy móc, cho phép thu nhỏ kho băng từ đồ sộ nhờ chuyển ghi lên các băng từ mật độ cao.

    Liên doanh với Golden Pacific Group (Mỹ) thành lập Trung Tâm Xử Lý Tài Liệu có trụ sở tại cư xá Thanh Đa (TP. HCM). Đây là một trung tâm xử lý tài liệu và minh giải địa chất mô phỏng  mỏ, quy mô tuy nhỏ nhưng có đầy đủ phần cứng và phần mềm hiện đại không thua gì ở Houston và Dubai. Nhờ có Trung Tâm này, 2/3 số tài liệu đã được xử lý trong nước, 1/3 đem đi nơi khác xử lý để đối chiếu. Năm 2002, Golden Pacific bắt đầu hoạt động có lãi (khoảng 1 triệu USD/năm). Kể từ 2002 các chuyên gia Mỹ đã rút hết chỉ để lại một người làm trưởng phòng kỹ thuật, mọi công việc đều do người Việt Nam làm và làm rất hiệu quả.

    Về mặt hệ thống, từ năm 1996 hầu hết các đơn vị thành viên trong Tổng Công Ty (TCTy) đã xây dựng mạng LAN hoạt động nhịp nhàng với các phần mềm quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh. Năm 1999, TCTy đã xây dựng xong mạng intranet, có đường truyền thuê bao riêng, đảm bảo thông tin thông suốt từ Bắc vào Nam. Riêng ở Vietsov-Petro (VSP) có một kênh vệ tinh thuê bao để chỉ đạo từ xa các giàn khoan khai thác ngoài khơi.

     

    Tiếp nối ra sao?

    Đặc thù của ngành dầu khí là ứng dụng công nghệ cao qui mô lớn và ứng dụng CNTT rất đa dạng. Tuy nhiên, lướt  qua lộ trình ứng dụng CNTT mấy chục năm qua, ta thấy ngành dầu khí  chưa có một chiến lược về CNTT. Ban CNTT của TCTy đến năm 2000 mới được thành lập là quá chậm so với các ngành khác, lại  không đủ sức tập hợp lực lượng, điều phối mọi hoạt động CNTT trong ngành.

    Theo mô tả của TS. Hà Dũng Quân, mạng intranet dầu khí được trang bị khá hiện đại sẽ kết nối 4 trung tâm vùng Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Dung Quất. Thế nhưng, có khả năng mạng không thể phát huy hiệu quả với đầu tư thiết bị nhiều triệu USD (!?). Đây là hệ quả của nhiều năm ứng dụng CNTT tự phát. Hiện nay mạng intranet mới chỉ hoạt động ở Văn Phòng TCTy và kết nối được 3/17 đơn vị thành viên. Nguy cơ về những “ốc đảo thông tin” trong ngành đã xuất hiện. Đã đến lúc phải giải quyết dứt điểm mới có thể tăng sức mạnh của “bộ não thông tin” của TCTy.

    Hình như các nhà quản lý ngành dầu khí quá ỉ lại vào phần mềm nhập ngoại nên không quan tâm xây dựng đội ngũ làm phần mềm cho riêng mình. Vẫn biết dầu khí là ngành đặc thù nên những phần mềm lớn, quan trọng buộc phải mua của nước ngoài. Song điều mong muốn chung là có sự tập hợp lực lượng các chuyên gia dầu khí, địa chất, các nhà làm phần mềm trong và ngoài ngành, dưới một mô hình tổ chức hợp lý, được đầu tư thích đáng để người Việt Nam tiến công vào khu vực này.

    Năm 1996, Trung Tâm Xử Lý Số Liệu (đã nói ở trên) mới được thành lập sau tám năm đi thuê xử lý ở xứ người. Tám năm gián đoạn này  đã khiến CNTT ngành dầu khí VN lạc hậu xa so với các nước láng giềng Đông Nam Á. Đây là  một bài học đắt giá.

    Ngân hàng dữ liệu dầu khí được đầu tư lớn cả phần cứng, phần mềm, hợp tác với Nhật hoàn thành bước 1 vào năm 2001. Đến nay cần có hướng triển khai bước hai, tiếp tục nạp dữ liệu của tất cả những vùng thềm lục địa đã khảo sát qua nhiều năm, nhiều thế hệ máy móc. Điều quan trọng hơn là kế hoạch khai thác ngân hàng dữ liệu đó ra sao để làm bật lên những nét riêng biệt của cấu trúc  mỏ dầu Việt Nam và có thể tìm ra mỏ mới từ kho tài liệu vô giá ấy.


    Vũ Ngọc Tiến

    ID: B0304_14