• Thứ Năm, 15/01/2004 16:39 (GMT+7)

    Phần mềm nhập ngoại - nỗi trăn trở không của riêng ai

    Quá trình đầu tư, phát triển các ứng dụng CNTT của ngành dầu khí Việt Nam trong khoảng 15 năm gần đây luôn đồng hành với việc mua các phần mềm (PM) của nước ngoài. Ûớc tính có khoảng vài chục PM lớn nhập ngoại, không kể các PM nhỏ khác hoặc mua của nước ngoài hoặc trong nước tự làm. Tổng giá trị các PM nhập ngoại lên tới nhiều triệu USD. Chỉ riêng một PM  làm cho ngân hàng dữ liệu dầu khí hợp tác với Nhật (1996) giá trị cũng đã hơn 300 ngàn USD. Hai hãng nước ngoài hiện đang cạnh tranh nhau ở thị trường PM dầu khí Việt Nam là Geoquest thuộc tập đoàn Schlumberger và Landmark thuộc tập đoàn Halibutton. Trong cuộc cạnh tranh này, hãng Landmark đến sau nên họ đang tung ra những chiêu thức khuyến mại hấp dẫn và đã len chân vào được Viện Dầu Khí và một số nhà thầu đang hoạt động ở VN (BP, UNOCAL,...).
    Hàng năm theo kết quả đàm phán với Geoquest, mỗi PM đều phải chịu 18% phí bảo trì dùng cho việc chỉnh sửa và tập huấn cán bộ làm CNTT. Đây là một tỷ lệ cao, dư luận cho là do hớ hênh khi đàm phán. Mặt khác, mỗi PM có thể sau một thời gian  sẽ được nâng cấp thành PM mới. Nhiều khi có những PM ta mua về chưa kịp sử dụng hoặc sử dụng chưa được bao  nhiêu đã phải mua mới. Đó là một thực tế đã từng xảy ra trong ngành dầu khí.

    Sự Cần Thiết Một Chức Danh CIO


    Hình 1: Mặt cắt địa chấn 3D thể hiện đới nứt nẻ liên quan đến dầu trong móng (Tạp chí Dầu Khí số 7/2002)

    Hiện trong ngành dầu khí đang tồn tại 6 trung tâm sử dụng nhiều các PM lớn nhập ngoại: Văn phòng Tổng Công Ty, Viện Dầu Khí, Công Ty  Đầu Tư Phát Triển Dầu Khí, Công Ty Thăm Dò và Khai Thác Dầu Khí, Liên Doanh Dầu Khí Việt - Xô, Trung Tâm Thông Tin - Tư Liệu Dầu Khí. Các đơn vị trên theo chức năng nhiệm vụ của mình đều quản lý những dự án khác nhau với nguồn kinh phí không nhỏ. Họ có quyền mua về những PM phục vụ cho dự án của mình. Tuy nhiên các dự án lại thường đan xen, gối đầu nhau theo trình tự thời gian. Đã từng xảy  ra hiện tượng có một PM nhập ngoại các đơn vị chỉ cần sử dụng vào một thời điểm nhất định nhưng đều mua về dùng cho dự án của mình. Nếu có một CIO đủ quyền lực, đủ trình độ điều phối họ dùng chung một PM thì đã tránh được lãng phí không nhỏ.
    Vấn đề 18% phí bảo trì PM và các PM nâng cấp mới cũng rất phức tạp, đòi hỏi một năng lực ứng xử tinh tế của CIO khi đàm phán với các hãng nước ngoài, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay giữa Geoquest và Landmark.

    Lối nào cho các pm thương hiệu việt nam?
    Đã từng có dư luận: ngành dầu khí Việt Nam đóng cửa đối với các doanh nghiệp PM trong nước. Có phải thế không? Khi chúng tôi làm việc với các chuyên gia dầu khí, họ đều có phản ứng về những phát biểu gần đây của ông Trương Gia Bình, chủ tịch Hiệp Hội các Doanh Nghiệp Phần Mềm VN (VINASA). Có một thực tế không thể phủ nhận là ngành công nghiệp dầu khí đòi hỏi những PM lớn mà những công ty PM ở Việt Nam không dễ len chân vào nếu chưa có sự chuẩn bị đầy đủ về nhân tài, vật lực. Nhưng hình như các đại gia PM ở ta chưa hình dung hết độ phức tạp của các PM dầu khí. Hãng Geoquest đã từng bỏ ra 70 triệu USD, huy động 200 người trong 10 năm để làm ra một PM mô phỏng dòng chảy chất lỏng và khí từ đáy giếng khoan lên miệng và đi vào bờ theo sự thay đổi áp suất, nhiệt độ... Họ đầu tư lớn như vậy để có sản phẩm PM chào bán khắp thế giới, thu lãi hàng tỷ USD. Nhìn lại lực lượng các doanh nghiệp PM của ta thì sao? Lễ hội PM 2002 được tổ chức với gần 500 sản phẩm của 142 công ty được đăng ký trình diễn, có thể xem như cuộc biểu dương lực lượng toàn diện của công nghiệp PM Việt Nam. Thế nhưng


    “Vấn đề dầu trong đá móng mà Việt Nam đang khai thác đang là một sự kiện khoa học của thế giới, cần được nghiên cứu đầy đủ”

    Hình 2: PGS.TSKH Mai Thanh Tân, chủ nhiệm Khoa Dầu Khí, ĐH Mỏ - Địa Chất

    nó chỉ phơi bày sự nghèo nàn, èo uột. 50% sản phẩm trình diễn là các PM kế toán, xếp thứ hai là các PM về giáo dục. Có rất ít PM chuyên sâu về khoa học kỹ thuật. Để làm ra các PM cho ngành dầu khí đòi hỏi phải gom sức mạnh riêng lẻ lại, hợp tác cùng bỏ vốn đầu tư nghiên cứu, nhân lực phải là tập hợp các chuyên gia địa - vật lý, thiết kế mỏ, toán học, lập trình, tự động hoá và truyền thông. Đội ngũ ấy phải huy động nhân tài ở ngành dầu khí,  các trường ĐH Mỏ, Bách Khoa, các công ty PM lớn... Đã từng có không dưới hai lần giới CNTT trong nước thử sức với ngành dầu khí nhưng đều chưa thành công. Năm 1994 - 1995 một nhóm cán bộ ở Viện Công Nghệ Thông Tin do GS- TSKH Bạch Hưng Khang chỉ đạo thử nghiệm dự án “Kiểm định chất lượng các băng từ địa chấn”. Cũng thời gian này một nhóm chuyên gia ở IDEA và khoa CNTT ĐH Bách Khoa thử sức vào lĩnh vực tích hợp dữ liệu dầu khí. Cả hai công trình trên đều được tiến hành rất công phu những đều không triển khai được vì một  lẽ đơn giản, đa số các tác giả thiếu kinh nghiệm và hiểu biết hạn chế về địa vật lý dầu khí. Chẳng lẽ CNTT trong nước mãi mãi đứng ngoài cuộc?  Thiển nghĩ, có thể giải quyết theo hai hướng :

    Thứ nhất: Về phía những người sử dụng, vì sự nghiệp lâu dài của ngành  dầu khí Việt Nam, cần có ngay một trung tâm PM cho ngành mình. Đơn vị này cần được đầu tư thoả đáng, hoạt động bằng vốn của ngành và có nguồn thu kiểu như Trung Tâm PM Thuỷ Lợi (xem PCWorld B số 11/2002), Trung Tâm CDIT của Tổng Công Ty Bưu Chính – Viễn Thông (xem PCWorld B số 3/2003). Nó có nhiệm vụ trước mắt làm ra các PM nhỏ phục vụ quản lý thống nhất trong ngành, đồng thời làm cầu nối hợp tác với các doanh nghiệp PM trong nước. Hy vọng sẽ đến một thời điểm không xa Petro Vietnam và VINASA có thể ngồi lại được với nhau, bóc tách ra các PM hoặc modun  PM trong nước có thể làm được;

    Thứ hai: các “đại gia” PM trong nước phải tự mình lớn lên, dám mạnh dạn đầu tư, chấp nhận mạo hiểm. Họ phải tìm đến các chuyên gia ngành dầu khí ở Tổng Công Ty và các trường ĐH để học hỏi và hợp tác thử nghiệm từ PM  nhỏ đến lớn. Trong hoàn cảnh nước ta, chỗ này rất cần có vai trò của Bộ BCVT, cơ quan quản lý nhà nước về CNTT và vai trò của Ban Chỉ Đạo Quốc Gia về CNTT.

    Một Cơ Hội Vàng Cho Cnppm Việt Nam
    Theo số liệu thăm dò được đến nay, tổng trữ lượng của Việt Nam là 550 triệu tấn dầu thô và 610 tỷ m3 khí tự nhiên. Nếu theo dự kiến đến năm 2010 sản lượng khai thác là 30 - 32 triệu tấn/năm thì tuổi thọ của các mỏ dầu chỉ hai chục năm. Thế nhưng thật ra các mỏ dầu của ta đa số nằm trong đá móng Granit. Năm 2002 sản lượng dầu khai thác của Liên doanh Việt - Xô Petro có tới 10 triệu tấn từ đá móng, chỉ có 2-3 triệu tấn trong đá trầm tích Mioxen và Oligoxen mà thôi.  Kỹ thuật thăm dò địa chấn cho thấy trong đá móng, bức tranh sóng địa chấn trở nên mù mịt bởi các sóng nhiễu. Theo PGS.TSKH Mai Thanh Tân (ĐH Mỏ - Địa Chất) thì việc phát hiện dầu và khí trong đá móng nứt nẻ đã mở ra một triển vọng và hướng thăm dò mới ở nước ta. Trước đây các quá trình xử lý số liệu hễ gặp đối tượng này đều bỏ qua, vì vậy không loại trừ khả năng nếu ta khai thác trở lại các nguồn thông tin lưu trữ cũ sẽ tìm ra thêm nhiều điều bí ẩn đang bị lãng quên. Hiện ta đang có hàng triệu tệp số liệu, mỗi tệp dung lượng cỡ vài trăm GB. Đó là khối tài sản quý cần gia công, phân tích lại với các bộ chương trình xử lý  đặc biệt, không giống với các bộ chương trình đã có của thế giới. Mục tiêu vươn tới của các bộ chương trình ấy là dập xóa các sóng nhiễu để làm nổi bức tranh sóng địa chấn dưới tầng sâu đá móng. Mặt khác, theo  ông Mai Thanh Tân, mỏ dầu trong đá gốc cũng đòi hỏi phải có các PM mô phỏng mỏ  khác với mỏ dầu thông thường trên thế giới trong đá trầm tích. Để giải quyết vấn đề này có lẽ cần những quyết định mà Ban Chỉ Đạo Quốc Gia về CNTT phải tham mưu cho Thủ Tướng Chính Phủ. Các nhà quản lý ở Petro Vietnam chịu một sức ép về gánh nặng nộp ngân sách (hiện nay hàng năm doanh thu 3 tỷ USD, nộp ngân sách 2 tỷ USD) nên không thể có những đầu tư lớn trong nghiên cứu cơ bản. Nhưng nếu dự án này triển khai sẽ có rất nhiều việc cho giới CNpPM trong nước có thể tham gia từ đầu với sự cố vấn của các chuyên gia địa chấn như Mai Thanh Tân, Phạm Năng Vũ, Hồ Đắc Hoài... Một cái lợi lớn khác nữa là sự kiện các mỏ dầu nằm trong đá móng Granit trên thế giới chỉ thấy ở vài nơi  mà Việt Nam là lớn và đặc trưng nhất. Nếu ta có được các bộ chương trình xử lý được chuẩn hoá sẽ là bảo bối lợi hại đem đi làm ăn với thế giới mỗi khi gặp loại mỏ tương tự, tạo cho mình một lợi thế cạnh tranh.

    Dầu khí đang là miền đất hứa của CNpPM  Việt Nam, nhưng muốn làm ăn lớn phải biết nhìn rộng, nghĩ xa.
    Hà nội, tháng 3/2003

    An Thái

    ID: B0304_18