• Thứ Năm, 15/01/2004 15:41 (GMT+7)

    13 năm ứng dụng CNTT ngành ngân hàng: Ba bài học kinh nghiệm

    Ba bài học  kinh nghiệm
    Thành tựu lớn nhất của ngành ngân hàng (NH) trong thời gian qua chính là đã khởi động thành công hệ thống thanh toán liên NH, gỡ điểm nút cơ bản trong giao dịch thanh toán vốn bị thắt lại trong nhiều năm qua. Tính đến tháng 4/2003 đã có hơn 160 đơn vị thành viên NH tham gia mạng thanh toán này. Lượng tiền lưu chuyển thông qua mạng này trung bình một ngày là 3000 tỷ đồng. Có được kết quả trên, ngành NH đã phải trải qua lộ trình 13 năm bền bỉ nỗ lực. Từng bước đi thận trọng của ngành NH là những bài học thực tế và hết sức gần gũi đối với các dự án CNTT đã và sẽ triển khai ở Việt Nam.

    Thử thách chính đối với ngành NH Việt Nam trước thềm hội nhập là phải đạt đến tiêu chuẩn quốc tế trong cơ cấu và dịch vụ chỉ trong một thời gian rất ngắn. Khoảng cách giữa NH Việt Nam và NH thế giới luôn bị giới chuyên gia đánh giá khắt khe là chậm hơn từ 10 đến 15 năm. Bên cạnh sức ép về thời gian, NH là ngành có nguy cơ rủi ro khá cao vì các hoạt động đều liên quan đến tiền bạc.
    Năm 1990, lần đầu tiên CNTT chính thức được lãnh đạo NH xác định là một mục tiêu quan trọng để đổi mới hoạt động NH thông qua đề án Xây dựng và phát triển CNTT trong ngành NH. Cũng như phần lớn các dự án tin học hoá khác, ban lãnh đạo NH đứng trước một loạt các vấn đề nan giải về nhân lực, công nghệ, mô hình ứng dụng, định hướng... Trong cuộc đua nước rút, dù rằng chưa thực sự mỹ mãn nhưng NH đang là một trong những ngành dẫn đầu cả nước về ứng dụng CNTT biểu hiện trên cả 3 mặt: trình độ ứng dụng, công nghệ hiện đại và hiệu quả công việc.

    Chuẩn bị kỹ nguồn nhân lực
    Một trong những nguyên nhân khiến phần lớn dự án CNTT ở các tỉnh, địa phương và một số bộ ngành sau khi trang bị máy móc xong thì 'nằm đắp chiếu' là không có sự chuẩn bị trước về nhân lực, một công việc không thể giải quyết một sớm một chiều.
    Để không nằm trong mớ bòng bong đó, trong nhiều năm qua ngành NH đã sớm chú trọng đến vấn đề phát triển nguồn lực cho công nghệ, thực hiện từng bước đào tạo lại con người, đồng thời tuyển mới khi có điều kiện.
    Nếu như trước năm 1990, phần lớn các cán bộ nghiệp vụ NH còn rất xa lạ với máy vi tính, không có cán bộ chuyên trách về tin học thì chỉ 2 năm sau, với mục tiêu đào tạo gắn liền với một ứng dụng cụ thể là nghiệp vụ kế toán, 100% nhân viên ở khâu kế toán và các nghiệp vụ chủ yếu của NH lần lượt được đào tạo sử dụng thành thạo máy tính trong công việc của mình. Không chỉ ứng dụng thụ động, các chuyên viên tin học của NH từ nhiều năm nay còn tự phát triển các sản phẩm ứng dụng cho đơn vị mình nên phần nào đã đáp ứng được yêu cầu hoạt động kinh doanh của mỗi NH trong thời điểm các công ty tin học Việt Nam chưa nhập cuộc.

    Cho đến nay NH đã có một lực lượng hùng hậu về đội ngũ cán bộ tin học. Với những NH cổ phần nhỏ, cán bộ tin học có thể chỉ gồm 5 hay10 người nhưng với những NH thương mại lớn con số này có thể lên tới vài trăm, điển hình như NH Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn với mạng lưới hoạt động gần 1.500 chi nhánh, lực lượng cán bộ tin học khoảng 460 người; NH Công Thương VN có hơn 360 người... Theo báo cáo tổng kết 10 năm ứng dụng và phát triển CNTT, đội ngũ cán bộ chuyên về tin học trong toàn ngành hiện có trên 1.400 người, trong đó, trình độ trên đại học và đại học chiếm tới 37%. 75% cán bộ, nhân viên nghiệp vụ NH hiện nay biết sử dụng máy tính để xử lý công việc hàng ngày. Hơn 80% các nghiệp vụ NH, 85% các giao dịch giữa NH với khách hàng được thao tác trên máy tính và các thiết bị hiện đại.

    Để có hiệu quả nhất trong lĩnh vực ứng dụng CNTT, mỗi NH đều đã thành lập Trung Tâm Tin Học chịu trách nhiệm chỉ đạo và định hướng thống nhất các hoạt động CNTT của toàn hệ thống. Bản thân hàng ngũ lãnh đạo các NH cũng kịp thời được bổ sung những người hiểu biết về CNTT, thậm chí là những người am hiểu sâu sắc. Xét về mặt này, so với nhiều ngành khác, lãnh đạo ngành NH được đánh giá là có mặt bằng hiểu biết chung về CNTT cao. Sự quan tâm, gắn bó giữa lãnh đạo ngành NH với các hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT cũng tỏ ra sít sao hơn so với tình trạng thờ ơ diễn ra ở nhiều ngành. Điều này cũng lý giải vì sao trong thời gian qua, các quyết định đầu tư và ứng dụng công nghệ trong ngành NH được chỉ đạo bài bản, nhanh và đúng thời điểm.

    Định hướng công nghệ thích hợp
    Thời điểm năm 1991, trong hoàn cảnh “vườn không nhà trống” về nhân lực CNTT, ngành NH đã chọn bài toán mở đầu giai đoạn tin học hoá này là ứng dụng phần mềm xử lý chứng từ cuối ngày chạy trên PC đơn lẻ. Chỉ 2 năm sau, khi có được những nền tảng cơ bản về nhân lực như: hầu hết cán bộ nghiệp vụ ở những khâu chủ yếu biết thao tác thành thạo với máy tính, trung tâm CNTT có đội ngũ cán bộ chuyên trách đủ mạnh, các NH mới bắt tay vào tin học hoá đồng loạt hệ thống.
    Năm 1993, phần mềm kế toán giao dịch tức thời chạy trên mạng LAN chính thức hoạt động trong hệ thống NH Nhà Nước (NHNN). Trên quan điểm vừa thận trọng đầu tư từng nấc vừa đào luyện người vận hành và khai thác hệ thống hiệu quả, sau khi chạy thử thành công ở Sở Giao Dịch NHNN, phần mềm này mới được triển khai rộng ở 76 đơn vị thuộc hệ thống NHNN.
    Kết quả qua mười năm thử nghiệm, tích luỹ kiến thức CNTT, ngành NH đã phát triển và vận hành hiệu quả hàng loạt các ứng dụng nghiệp vụ như: Hệ thống kế toán giao dịch tức thời, Hệ thống thanh toán bù trừ, Hệ thống thanh tra giám sát từ xa các tổ chức tín dụng, Hệ thống rút tiền tự động ATM, Hệ thống NH bán lẻ, Hệ thống thông tin báo cáo NH... và ứng dụng quản lý như Hệ thống quản lý cán bộ,...  với tổng số chương trình ứng dụng lên tới vài chục.

    Cho đến thời điểm trước năm 2001, hầu hết nội bộ mỗi NH đã đạt được sự chín muồi về nhận thức cũng như trình độ. Một số hệ thống ứng dụng trong ngành NH đã được xử lý trực tuyến, đa số cán bộ nghiệp vụ đã tự chủ trong các giao dịch và vận hành hệ thống có liên quan trên máy tính, giữa chi nhánh và hội sở chính các NH lớn hầu hết đã được kết nối mạng diện rộng. Và đây chính là lí do giải thích vì sao vào thời điểm tháng 5/2002, khi ngành NH chính thức công bố nối mạng thanh toán liên NH theo đúng tiến độ đề ra, họ hầu như không gặp trở ngại nào về tâm lý tiếp nhận lẫn khả năng tham gia vận hành hệ thống từ các đơn vị thành viên.

    Dù còn vài khiếm khuyết nhưng sau gần một năm vận hành, hệ thống đã kết nối mạng thanh toán tới hơn 160 đơn vị NH, đã thực hiện khoảng 600.000 giao dịch với trị giá thanh toán trên 300.000 tỷ đồng. Những ngày cao điểm hệ thống đã lưu chuyển tới 113.000 giao dịch. Trung bình một ngày, hệ thống thanh toán khoảng 6.000 giao dịch với trị giá khoảng 3.000 tỷ đồng. Bài học lớn nhất của kết quả trên chính là bài học về khâu chuẩn bị.  Nếu không có nỗ lực từ phía các NH, không có thời gian để chín muồi về nhận thức, công nghệ cùng nguồn nhân lực, chắc chắn ngành NH không có cơ sở tiếp nhận thành công khoản tài trợ của World Bank cho dự án Hiện đại hoá NH, đồng nghĩa với việc nhiều triệu USD đầu tư sẽ phải nằm chờ việc đổi mới nghiệp vụ, xây dựng nguồn nhân lực.
    Bằng việc triển khai dự án Hiện đại hoá NH và hệ thống thanh toán, các NH Việt Nam sẽ khắc phục cơ bản được những hạn chế về lưu chuyển đồng vốn; cải tiến và tăng cường công tác kế toán và các thủ tục kiểm soát của NHNN, NH thương mại; góp phần điều hành hiệu quả chính sách tiền tệ của NHNN thông qua việc cung cấp thông tin kịp thời và chính xác về luồng chu chuyển vốn; tạo môi trường để mở rộng các dịch vụ trong tương lai.

    Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý
    Một trong những vấn đề lớn của những năm trước đây cũng như hiện nay là văn bản pháp lý không theo kịp với đòi hỏi ứng dụng CNTT. Để chuyển từ xử lý thủ công và cơ giới hoá sang phương thức tự động hoá không thể chỉ trông chờ vào tinh thần và ý thức của từng người tham gia hệ thống. Một bài học rút ra từ quá trình tin học hoá ngành NH là: hệ thống văn bản pháp lý cần xây dựng phù hợp với điều kiện ứng dụng công nghệ mới, nhất là các văn bản pháp lý về thông tin điện tử, chữ ký điện tử, nếu không các ứng dụng CNTT khó mà đạt được hiệu quả và tác dụng như mong muốn.
    Cho đến trước thời điểm Chính Phủ ký Quyết Định 44 về công nhận chứng từ điện tử trong thanh toán và hạch toán NH (tháng 3/2002), các giao dịch điện tử trong ngành NH hầu như không phát huy được hết sức mạnh. Để đảm bảo an toàn giao dịch điện tử, đa số các NH phải tự đề ra quy định như: hạn chế các giao dịch thanh toán có giá trị lớn, hạn chế đối tượng khách hàng... gây nên tình trạng các hệ thống giao dịch thanh toán điện tử hầu như chỉ hoạt động nửa vời, cầm chừng. Tình trạng đó nếu kéo dài sẽ ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh của NH, giảm tính cạnh tranh giữa NH Việt Nam với các NH nước ngoài. Và chỉ đến khi có quyết định trên, các hạn chế này mới cơ bản được khắc phục, hệ thống giao dịch điện tử mới có cơ sở để hoạt động theo đúng nghĩa của nó, mang lại không chỉ lợi nhuận cho NH mà còn tạo thêm lòng tin tưởng giữa khách hàng và NH.
    Mặc dù đạt được nhiều thành công, không phải ngành NH đã hoàn hảo trên mọi phương diện tin học hoá vì xét cho cùng, họ không thể thoát khỏi sự chi phối của bối cảnh chung. Ngành NH vẫn còn ngổn ngang một loạt các vấn đề như: văn bản pháp lý về quy trình kỹ thuật, nghiệp vụ chưa hoàn thiện, các hệ thống ứng dụng chưa được tiến hành đồng bộ, một số dịch vụ hiện đại chỉ mới dừng ở thử nghiệm...

    Một trong những tồn tại lớn của ngành NH hiện nay là hậu quả của việc không có các thiết kế tổng thể ngay từ ban đầu cho các ứng dụng và hệ thống. Phần lớn các chương trình ứng dụng đưa ra theo kiểu người làm CNTT tự viết và khuyến khích cán bộ NH sử dụng chứ không có các yêu cầu về chuẩn nghiệp vụ từ ban đầu, do đó hệ thống thường mang tính chắp vá, không theo một chuẩn thống nhất. Khi các NH quốc tế tung ra sản phẩm dịch vụ hiện đại cạnh tranh, NH Việt Nam sẽ mất dần các lợi thế của mình vốn đang được bao bọc bởi các chính sách bảo hộ của Nhà Nước.
    Chặng đường phía trước còn dài. Nhưng thành quả ứng dụng CNTT ngành NH đạt được là rất đáng khích lệ, kết quả của  những bước đi bền bỉ và thận trọng của ngành trong suốt 13 năm qua.
    Ông Bùi Khắc Sơn, Phó TGĐ NH Công Thương VN: Thành công lớn của NH trong ứng dụng CNTT là đã làm thay đổi nhận thức về vai trò quan trọng của máy tính với hiệu quả công việc kinh doanh của NH. Nhờ thế các ứng dụng CNTT đã được phát triển theo cả chiều rộng lẫn bề sâu.

    Thu Hiền

    ID: B0305_16