• Thứ Năm, 15/01/2004 15:43 (GMT+7)

    Thị trường phần mềm ngân hàng vẫn là ẩn số?

    Với công cuộc tái cấu trúc ngân hàng (NH) từ nay đến năm 2005, dự báo riêng việc trang bị phần mềm ứng dụng trong hệ thống NH sẽ tiêu tốn hàng ngàn tỷ đồng. Đâu là thời cơ và thách thức với doanh nghiệp phần mềm Việt Nam trong lĩnh vực này?

    Dự báo
    Sau những bước thành công hiện đại hoá hệ thống kế toán, thanh toán, từ năm 2003 các NH sẽ tập trung triển khai các sản phẩm tiện ích cao, có khả năng giao dịch 24/24 giờ, đáp ứng giao dịch mọi nơi, mọi lúc như: Internet Banking (giao dịch NH qua Internet), Home Banking (giao dịch tại nhà), Phone Banking (giao dịch qua điện thoại), Ecommerce Banking (giao dịch cho TMĐT)... Có thể nói thời điểm từ nay đến 2005 là hạn định để các NH Việt Nam phấn đấu hoàn thành kế hoạch tái cấu trúc NH cho mục tiêu hội nhập.
    Con số dự tính đầu tư cho riêng CNTT (tỷ lệ phần cứng 50%, phần mềm 50%) đến năm 2005 vào khoảng trên 449 triệu USD (tính theo giá cung cấp giải pháp của đối tác nước ngoài) với chi phí bảo trì hàng năm khoảng 67 triệu USD (15%). Đánh giá quy mô thị trường cho thấy, mức chi tiêu công nghệ phần lớn tập trung ở nhóm các NH thương mại quốc doanh, khoảng trên 376 triệu USD. Ngoài đầu tư tiếp cho hệ thống giao dịch, thanh toán (đã triển khai từ 2002), các NH sẽ tập trung chủ yếu cho các hệ thống ứng dụng mới như đã nêu trên.

    Thách thức...
    Tuy được đánh giá là ngành có tốc độ hiện đại hoá và ứng dụng công nghệ thuộc loại tiên tiến nhất trong khối các DN Việt Nam nhưng so với yêu cầu hội nhập quốc tế, mức ứng dụng của ngành NH Việt Nam hiện nay chỉ mới vượt qua bước khởi đầu.
    Sau hơn 10 năm ứng dụng, nền tảng công nghệ NH bộc lộ những hạn chế như: hầu hết dựa trên mô hình xử lý phân tán, cấu trúc thông tin nghèo nàn và không tích hợp, cấu trúc công nghệ dựa trên nền tảng thấp (cho PC, hệ điều hành DOS, Novell, hệ quản trị CSDL Foxpro...), ít có khả năng kết nối giữa hệ thống các NH, tỷ lệ tự động hoá thấp so với yêu cầu... Những yếu kém trên chính là mảnh đất màu mỡ đáng để các nhà cung cấp giải pháp lưu tâm.
    Phần mềm ứng dụng trong ngành NH thường có những đòi hỏi riêng do mọi hoạt động giao dịch của NH đều chứa đựng giá trị tiền tệ. Một số yêu cầu cơ bản chung là: tính bảo mật cao, khả năng xử lý trực tuyến với số lượng giao dịch cực lớn (hàng triệu giao dịch mỗi ngày), khả năng tham số hoá cao tới mức chi tiết nhằm đáp ứng nhu cầu chỉnh sửa và hiệu đính sau này, có khả năng tích hợp với nhiều hệ thống khác... 

    Ngày nay, đòi hỏi bắt buộc của các NH là giải pháp tổng thể và sản phẩm  phải có chất lượng mà chỉ những công ty tin học đã đạt chuẩn ISO và CMM mới có thể đáp ứng. Có nhiều ý kiến khác nhau về khả năng tham gia của các công ty phần mềm Việt Nam với thị trường này. Một nhận định cho rằng: Việt Nam hiện nay chỉ có vài công ty có khả năng và đủ điều kiện cung cấp, còn lại là không đạt. Giám đốc Trung Tâm CNTT của NH Ngoại Thương (VCB), ông Đào Minh Tuấn khẳng định: “phần mềm dùng trong hệ thống VCB là do VCB tự viết, nếu có phần mềm khác thì là của nước ngoài”. Trong thời gian qua,  các NH đã mở  nhiều cuộc đấu thầu cung cấp thiết bị, công nghệ; thông tin hầu hết được công khai nhưng đa phần các công ty phần mềm Việt Nam tham gia theo kiểu “được chăng hay chớ” và không đủ tự tin trước các đối thủ nước ngoài cả về kinh nghiệm, khả năng tài chính lẫn nguồn nhân lực để triển khai. Lãnh đạo một NH so sánh: “những công ty trên thế giới thành công trong lĩnh vực cung cấp phần mềm cho ngành NH thường có hệ thống cơ sở vật chất tốt và có bề dày nghiên cứu cũng như phát triển sản phẩm NH. Ví dụ tập đoàn Huyndai, đơn vị trúng thầu dự án Hiện đại hoá hệ thống NH Việt Nam, họ có một trung tâm chuyên cung cấp và phát triển phần mềm, đồng thời trung tâm này là nơi có 19 NH lớn nhất của Hàn Quốc thuê để đặt thiết bị backup dữ liệu”.

    Kết quả tuyển chọn chuyên gia tham gia các dự án CNTT trong ngành NH gần đây cho thấy các công ty phần mềm Việt Nam thường thiếu khả năng thiết kế và xây dựng các dự án có quy mô lớn, cần xử lý tập trung, khả năng giao dịch với số lượng lớn.

    Thị trường phần mềm NH rất phong phú và đầy tiềm năng nhưng cũng được xem là thị trường có độ rủi ro cao. Việc xây dựng hệ thống CNTT cho NH, nhất là các NH thương mại lớn, đòi hỏi công ty cung cấp phải có cơ sở vật chất đủ để xây dựng và vận hành các dự án lớn. Thông thường, chi phí cho hệ thống thiết bị đáp ứng yêu cầu trên phải chi phí ít nhất là 10 tỷ đồng. Trong khi chưa tính được đầu ra cho sản phẩm phần mềm, phần lớn các công ty không dám mạo hiểm đầu tư.

    ...Và thời cơ
    Nói như vậy không có nghĩa là các công ty trong nước hết cơ hội. Hầu hết các NH hiện nay đang đứng trước thách thức về vấn đề chi phí phát triển hệ thống. Vì xét cho cùng, dù có thế mạnh về nguồn lực tài chính nhưng khi đứng trước quyết định chọn giải pháp nước ngoài với chi phí lớn (gồm cả chi phí cho hệ thống chương trình, thiết bị lẫn chi phí phát triển và bảo trì), họ không thể không thấy xót xa. Chỉ những NH lớn được tổ chức quốc tế hay NH Thế Giới tài trợ mới đủ khả năng thực hiện, còn các NH vừa và nhỏ khác thì khó chấp nhận.
    Mặt khác, tính lệ thuộc vào nhà thầu nước ngoài rất lớn, nếu trình độ cán bộ của NH trong nước không đủ độ sẵn sàng sau chuyển giao. Và quan trọng hơn, đối tượng các nhà thầu nước ngoài nhắm đến thường là các NH lớn có đủ khả năng triển khai các giải pháp trọn gói, các NH nhỏ không nằm trong vòng ngắm này. Và đây chính là cơ hội.

    Một ý kiến khác cho rằng, sản phẩm NH tuy yêu cầu cao về mặt công nghệ nhưng không nhất thiết phải triển khai tổng thể mà có thể chỉ quan tâm đến một sản phẩm hay một nhóm sản phẩm chuyên biệt ứng dụng trong ngành. Sản phẩm Hệ thống thanh toán trực tuyến  VASC Payment của công ty VASC là một ví dụ. Bước đầu, sản phẩm này đang được ứng dụng cho các khách hàng có mở tài khoản tại 2 NH: Vietcombank và Techcombank. Phần mềm Infogate Banking của CDiT cũng là một bằng chứng.
    Nhu cầu phần mềm trong ngành NH hiện tại và tương lai là rất lớn. Nếu thâm nhập được thị trường này, dù với một sản phẩm nhỏ, ứng dụng trong một NH nhỏ cũng là cơ hội vô cùng tốt để các công ty tạo được lợi thế riêng cho mình trong việc định vị sản phẩm và vị trí của công ty với ngành NH. Liệu các công ty phần mềm Việt Nam đã đủ quyết tâm và tự tin để chiến thắng trên sân nhà? Câu hỏi đó vẫn là một thách thức.

    (Dựa trên nguồn báo cáo tại Hội nghị Phần mềm Việt Nam trước thềm hội nhập, tháng 4/2003 tại Hà Nội)

    ID: B0305_19