• Thứ Năm, 08/01/2004 17:21 (GMT+7)

    GIS và quy hoạch nuôi trồng thuỷ sản

    Quy hoạch nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) là nghiên cứu tìm ra vùng nào phù hợp nuôi con gì, trồng cây gì để định hướng cho người dân. “Quy hoạch NTTS là việc làm rất cần thiết, cấp bách, nhưng việc triển khai quy hoạch thường không kịp với thực tế” - Câu phát biểu của thứ trưởng Bộ Thuỷ Sản Nguyễn Việt Thắng tại hội thảo quốc gia về quy hoạch nuôi trồng thuỷ sản ngày 5/6/2002 tại Hà Nội xem ra vẫn đúng với hiện trạng nuôi trồng ồ ạt, tràn lan, mang tính tự phát và phá vỡ quy hoạch trong dân cư hiện nay.

    Mới đây, một chuyển động trong ứng dụng CNTT nhằm cố gắng khắc phục hiện trạng này vừa được Bộ Thuỷ Sản tiến hành.

    Hiện Trạng Quy Hoạch NTTS Tại Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL)

    Quy hoạch kiểu “cục bộ”


    Ths. Nguyễn Thanh Tùng, trưởng phòng Môi Trường Nguồn Lợi Thuỷ Sản, Viện II

    Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thuỷ Sản II, TP.HCM (Viện II) nhiều năm qua đã và đang áp dụng một cách quy hoạch kiểu “cục bộ” như sau: quy hoạch một vùng, huyện hay tỉnh nào, Viện II “thu thập” bản đồ GIS quy hoạch tổng thể của vùng, tỉnh, huyện ấy từ các Sở Địa Chính. Sau đó, họ cử cán bộ khảo sát về nguồn lợi thủy sản, thức ăn thuỷ sản; chất lượng nguồn nước theo các chỉ tiêu pH, DO (ôxy hoà tan), độ mặn; chỉ tiêu kim loại nặng, thuốc trừ sâu, ô nhiễm dầu... tại vùng cần quy hoạch, rồi thêm các lớp thông tin này lên bản đồ nói trên. Họ còn kết hợp với Viện Khoa Học Thuỷ Lợi Miền Nam để thêm vào lớp thôngtin về hiện trạng hệ thống thuỷ lợi, bản đồ đất, ngập nước, kinh mương...

    Căn cứ vào bản đồ mới hình thành và các tiêu chí về phân vùng sinh thái đối với NTTS, chuyên gia của Viện II sẽ phân ra các vùng nuôi thích hợp với các đối tượng khác nhau: vùng chuyên tôm, vùng 1 vụ lúa 1 vụ tôm, vùng ngọt... Đồng thời,  họ cũng định hướng mô hình: nuôi tôm công nghiệp, nuôi quảng canh cải tiến...

    “Quy hoạch kiểu cục bộ  này cũng mang lại một số kết quả”, Ths. Nguyễn Thanh Tùng, trưởng Phòng Môi Trường-Nguồn Lợi Thuỷ Sản Viện II cho biết. “Chẳng hạn tại Bến Tre, Kiên Giang, ngày xưa người dân trồng lúa rất bấp bênh, đến khi muốn nuôi tôm không xác định được thời điểm, địa điểm nên thực hiện. Thông qua công tác quy hoạch của Viện II, định hình phân bố mới thể hiện rõ. Nhờ đó người dân khi chuyển đổi từ trồng lúa sang nuôi tôm rất ít bị rủi ro.”

    Đến nay, Viện II đã thực hiện bản đồ NTTS một số huyện tại các tỉnh Kiên Giang, Vũng Tàu Bà Rịa, Bến Tre.

    Công nghệ áp dụng thực hiện các bản đồ này không quá phức tạp. Bản đồ sẵn có, các lớp thông tin chồng lên thêm được thực hiện bằng chương trình MapInfo, ArcView. Ngoài ra, những số liệu điều tra mang tính xã hội như: số lượng nông hộ đang NTTS, các ngư trường, ngư cụ hiện có... được xử lý bằng phần mềm SPSS (Statistics Package for Social Science-xử lý số liệu thống kê mang tính xã hội) rất phổ biến trong ngành thuỷ sản.

    Các ý kiến lo ngại

    “Tuy nhiên về lâu về dài, không thể áp dụng mãi cách này”, ông Tùng trầm ngâm lo ngại. “Hệ thống bản đồ quy hoạch NTTS cứ được “cóp nhặt” theo kiểu thủ công không thể đáp ứng nhu cầu cập nhật diễn biến đất và nước của vùng, từ đó, người làm khoa học không tư vấn kịp cho người dân về thay đổi của môi trường nuôi trồng”.

    Ông Nguyễn Mạnh Hùng, trưởng Phòng Thông Tin Khoa Học của Viện II nói: những việc làm kể trên chưa đủ ý nghĩa của công tác quy hoạch! Ông lý giải: quy hoạch cần dựa vào các nghiên cứu toàn diện về điều kiện tự nhiên: thông tin khí hậu, đất đai, thành phần cơ giới, độ dốc, khả năng xói mòn, khả năng xâm nhập mặn, chất lượng nước... và các điều kiện sinh lý của cây trồng, vật nuôi. Các yếu tố này được xây dựng trên hệ thống bản đồ chuyên biệt thông qua các hệ liệu: điều tra, viễn thám. Có thể dùng GIS để thực hiện các bản đồ này ở những tỉ lệ khác nhau.

    Hệ thống bản đồ để lên kế hoạch NTTS trong tương lai của cả vùng và phải làm trước khi người dân trong vùng chuyển đổi cây trồng, vật nuôi hay đầu tư NTTS. Còn hiện nay, quy hoạch chỉ toàn đi sau và dựa trên những bản đồ không được cập nhật, dẫn đến việc người dân hoàn toàn tự phát khi chuyển đổi từ trồng lúa sang nuôi tôm, nghêu, cá...; vùng này bắt chước vùng kia nuôi trồng dù rằng điều kiện môi trường, thổ nhưỡng không phù hợp, thiệt hại rất nhiều.


    Bản đồ quy hoạch NTTS tỉnh Bến Tre

    Ông Hùng dẫn chứng: Năm 1994, khi bệnh tôm bùng nổ, Viện II có thực hiện nghiên cứu “Nguyên nhân gây chết tôm nuôi và cách khắc phục”. Ûớc tính thiệt hại khoảng 400 tỉ đồng, nguyên nhân do môi trường, con giống, cách quản lý. Nhưng nguyên nhân lớn nhất là do vùng nuôi tôm không có đê bao, kênh thoát và kênh cấp hoà lẫn vào nhau, làm cho nước thoát của nhà có tôm bệnh “chui” vào nhà khác và cứ thế lan ra cả vùng. Hệ thống đê bao đó chỉ có thể nhìn thấy qua quy hoạch từ trước, trong khi các tỉnh chỉ biết phát triển vùng tôm mà không quan tâm đến quy hoạch. “Vậy mà từ đó đến nay, quy hoạch NTTS vẫn dẫm chân tại chỗ, chưa được xem trọng, trong khi diện tích nuôi tôm cả nước đang tiếp tục phát triển, hiện đã là 4000 hecta”- ông Hùng kết luận.

    Chuyển Biến Tích Cực Từ Bộ Thuỷ Sản

    Từ những thực tế trên, Bộ Thuỷ Sản thấy rằng để phát triển NTTS bền vững cần có đầu tư về công nghệ phục vụ công tác quy hoạch. Chính vì vậy, vừa qua Bộ Thủy Sản đã duyệt đề tài "Ứng dụng công nghệ GIS và viễn thám cho quản lý nghề cá"  do ông Nguyễn Mạnh Hùng, Viện II  làm chủ nhiệm. Kinh phí dự án xấp xỉ 1 tỷ đồng và có thể tăng thêm trong tương lai. Trong năm 2003 Bộ sẽ cấp 450 triệu đồng chủ yếu để mua sắm máy móc thiết bị. Mục tiêu dự án là dựng lại bản đồ hiện trạng NTTS vùng ĐBSCL ở các tỷ lệ 1/250.000, 1/100.000, 1/25.000.

    Còn rất nhiều việc phải làm song song với dự án như tăng cường nhân sự, đào tạo sử dụng tin học cho cán bộ thuỷ sản, nhất là phương pháp vẽ bản đồ...

    Ngoài ra, các ứng dụng khác của GIS như nghiên cứu biến động của ngư trường, nghiên cứu tác động của tàu thuyền đánh bắt với nguồn cá địa phương... cũng cần được quan tâm.

    Ngọc Khánh

    ID: B0307_20