• Thứ Năm, 08/01/2004 17:09 (GMT+7)

    “Các dự án CNTT của Bộ còn chưa hấp dẫn...”

    Nhằm làm rõ hơn các vấn đề ứng dụng CNTT trong ngành thuỷ sản, phóng viên PC World B đã có buổi làm việc với ông Ngô Anh Tuấn, chánh văn phòng Bộ, giám đốc Trung Tâm CNTT Bộ Thuỷ Sản.

    Thưa ông, đặc điểm riêng nào của ngành thuỷ sản có ảnh hưởng đến việc phát triển CNTT?

    Theo tôi, các bài toán ứng dụng CNTT trong ngành thuỷ sản (TS) bị chi phối bởi 3 yếu tố: Thứ nhất, TS là ngành kinh tế công nghiệp bán nông nghiệp, nghĩa là công nghiệp hoá trên cơ sở có những đặc thù gần giống nông nghiệp. Do vậy, các bài toán ứng dụng phải xét đến hạ tầng cơ sở phát triển trong ngành và đặc thù quản lý. Thứ hai, TS là ngành gắn với cộng đồng ngư dân, mà ở nước ta khối dân cư này thường nghèo, đời sống chậm phát triển, trình độ thấp, phương thức khai thác, sản xuất phần lớn thủ công. Do đó, việc phát triển các ứng dụng CNTT trong ngành luôn bị hạn chế bởi khả năng tiếp nhận và càng khó nói đến việc tự cung tự cấp. Thứ ba, TS là ngành sản xuất gắn chặt với thị trường nên các bài toán ứng dụng không chỉ cần đáp ứng yêu cầu quản lý tại chỗ mà phải hỗ trợ các hoạt động kinh doanh, xuất khẩu, thương mại điện tử.

    Nếu so với các ngành khác như ngân hàng, tài chính, dầu khí thì mức độ ứng dụng CNTT của ngành TS nói chung vẫn còn thấp. Theo ông, hạn chế đó bắt nguồn từ những nguyên nhân nào?

    Đúng là tiến trình phát triển CNTT trong ngành TS đang tiến rất chậm so với các ngành khác, thậm chí, nếu so với các yêu cầu phát triển chung của ngành thì càng chậm hơn nữa. Khó khăn lớn nhất của ngành TS chính là vì mặt bằng chung về trình độ văn hoá của ngư dân thấp. Ở các cấp quản lý ngành chưa có đội ngũ chuyên gia có trình độ cao về CNTT. Bên cạnh đó là những khó khăn chung như nguồn tài chính của Nhà Nước hạn chế và thường giải ngân chậm... Nhưng cũng phải khách quan mà khẳng định, các doanh nghiệp chế biến, xuất nhập khẩu TS trong vài năm trở lại đây đã chủ động có những bước tiến dài về ứng dụng CNTT nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập. Ví dụ, vụ kiện cá basa hồi đầu năm vừa rồi. Để đối phó được trong vụ kiện này các DN chế biến và xuất khẩu TS Việt Nam đã làm rất tốt việc nắm bắt thông tin thị trường từ Internet. Thậm chí, khi Bộ Thương Mại Hoa Kỳ vừa công bố văn bản quy định về giá vụ kiện cá basa tại Mỹ thì lập tức tại Việt Nam các DN và Hiệp Hội VASEP đã nắm được thông tin này và có ngay biện pháp ứng đối kịp thời.

    Như ông đã nói, có một số DN TS ứng dụng CNTT tốt, chủ của DN đó có thể quản lý và điều hành công ty tại Việt Nam trong khi ông ta đang công tác ở Mỹ hay Nhật Bản... Nhưng số DN TS Việt Nam như vậy không nhiều, chủ yếu là các DN có vốn đầu tư nước ngoài hoặc những DN xuất khẩu TS lớn. Là cơ quan quản lý ngành, Bộ TS sẽ có những biện pháp gì để san bằng khoảng cách phát triển không đồng đều về CNTT trong ngành?

    Đó là bài toán khó và nan giải với chúng tôi, bởi vì người dùng các hệ thống ứng dụng của ngành chính là các ngư dân có trình độ hiểu biết CNTT rất thấp. Trước mắt, mạng thông tin nối với 34 cơ quan quản lý tại địa phương của Bộ đang hoạt động tốt. Kế hoạch tiếp theo sẽ mở rộng mạng này tới 61 tỉnh thành và các DN TS. Chúng tôi kỳ vọng mạng thông tin này sẽ là cơ sở để tạo lập nền tảng và san lấp khoảng cách phát triển về công nghệ và thông tin giữa các vùng, các DN, các khối cơ quan quản lý của ngành TS.

    Bên cạnh đó chúng tôi đã và đang có kế hoạch chuẩn bị nguồn nhân lực CNTT như: tiếp nhận trực tiếp các SV khá giỏi từ các trường ĐH, CĐ đào tạo về CNTT; liên tục tổ chức các lớp đào tạo tin học cơ bản cho các cán bộ trong ngành, kể cả lãnh đạo, cử cán bộ đi đào tạo chuyên ngành trong và ngoài nước...

    Tôi nghĩ các DN TS, các viện nghiên cứu, các chi cục TS... hiện đang ứng dụng CNTT rất tốt, nếu được đầu tư tiếp tục để phát triển mạnh hơn họ sẽ là những đầu tàu tốt để kéo theo những đơn vị còn lại của ngành.

    Trong tiến trình phát triển CNTT của ngành TS, sự góp mặt của các DN CNTT hình như chưa nhiều. Điều này là do Bộ chưa có một kế hoạch hoàn chỉnh về CNTT hay do những nguyên nhân nào khác?

    Trước tiên phải khẳng định ngay là Bộ TS đã có một kế hoạch tổng thể về phát triển CNTT toàn ngành từ cuối năm 2002, trong đó có đề ra các nội dung công việc cụ thể như xây dựng hạ tầng kỹ thuật, đào tạo nhân lực, xây dựng các hệ thống tác nghiệp, xây dựng hệ CSDL quản lý cấp ngành....

    Đã có một số đơn vị tin học trong nước tham gia vào dự án CNTT của Bộ TS như: công ty FPT cung cấp hệ thống mạng tại cơ quan Bộ, công ty CMC cung cấp phần mềm e-DocMan trong công tác quản lý hành chính... Nhưng phải nhìn nhận sự tham gia đó là chưa nhiều, có thể do các dự án CNTT của Bộ chưa thực sự hấp dẫn, nhiều dự án chưa triển khai vì thiếu kinh phí. Chúng tôi đang hy vọng, sự gắn kết giữa các chuyên gia trong ngành TS và chuyên gia tin học trong thời gian tới sẽ tốt hơn nữa khi Bộ triển khai các dự án phần mềm về quản lý ngư trường, quản lý tàu thuyền, quản lý chất lượng TS...

    Câu hỏi cuối cùng, xin ông cho biết dự án "Hệ thống thông tin liên lạc ngành TS" hiện nay đã được triển khai tới đâu và đó có phải là dự án lớn đầu tiên của ngành về CNTT?

    Trước dự án này chúng tôi đã triển khai hợp phần FMIS thuộc dự án STOFA do chính phủ Đan Mạch tài trợ. Đây là dự án lớn tổng hợp nhiều nội dung nhằm xây dựng hệ thống mạng và triển khai các CSDL thiết yếu trong quản lý TS, đào tạo, nối mạng LAN cho các viện, trung tâm thuộc Bộ... Hiện dự án "Hệ thống thông tin liên lạc ngành TS" đang trong giai đoạn trình Chính Phủ. 

    Xin cảm ơn ông.

    Dự án "Hệ thống thông tin liên lạc ngành thuỷ sản"

    Mục tiêu: Thiết lập hệ thống thông tin nối từ bờ tàu thuyền hoạt động ngoài khơi với các trạm bờ và ngược lại. Các thông tin được truyền gồm: tình hình thời tiết, hướng dẫn tàu thuyền neo đậu khi thời tiết xấu phục vụ công tác cứu nạn. Sau đó hệ thống này sẽ áp dụng công nghệ GIS để tổ chức thông tin một chiều tới ngư dân về vấn đề đánh bắt và khai thác thuỷ sản, thông tin dự báo về ngư trường, thị trường.

    Các giai đoạn tiến hành:

    Giai đoạn 1: xây dựng 17 đài phát sóng ngắn đặt dọc bờ biển từ Móng Cái đến Kiên Giang.

    Giai đoạn 2: xây dựng hệ thống thông tin ngành TS trên cơ sở hệ thống thông tin hàng hải và bưu điện, trang bị máy thu phát công suất nhỏ cho tàu thuyền cá.

    Giai đoạn 3: xây dựng mạng thông tin định vị trên cơ sở sử dụng mạng thông tin định vị vệ tinh của ngành hàng hải.

    Dự án này dự kiến hoàn thành trong vòng từ 6 đến 8 năm, với tổng số vốn đầu tư dự kiến gần 60.000 tỷ đồng.

    Thu Hiền (thực hiện) 

     

     

    ID: B0307_22