• Thứ Tư, 07/01/2004 15:05 (GMT+7)

    CNTT Trong Nghành Hải Quan Việt Nam - Chiến lược phát triển chưa tương xứng yêu cầu hội nhập

    Dù đã có một số ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) được đánh giá là khả quan, nhưng những gì Hải Quan Việt Nam làm được trong thời gian qua vẫn còn sơ khai. Trong khi đó, hải quan là ngành phải chịu áp lực cao trước yêu cầu hội nhập quốc tế. Vấn đề đặt ra của ngành hải quan là làm thế nào san bằng khoảng cách về công nghệ với hải quan thế giới và không trở thành "ốc đảo” với các ngành khác cũng như trong hệ thống của chính mình.

    Với mục tiêu là phải hình thành kho dữ liệu thống kê về hàng hoá xuất nhập khẩu, năm 1994, ngành hải quan (HQ) đã lần đầu tiên xây dựng hệ thống thu thập xử lý dữ liệu tờ khai HQ. Sau hơn một năm duy trì và chạy thử nghiệm, hệ thống mới vận hành ổn định và kết nối với các chi cục HQ. Từ đó tới nay, hệ thống này hoạt động hiệu quả, cung cấp đều đặn thông tin thống kê về tình hình hàng hoá XNK của Việt Nam  tới các cấp lãnh đạo, cơ quan quản lý Nhà Nước, các doanh nghiệp (DN), đơn vị có nhu cầu. Thông tin cung cấp có thể chi tiết tới tình hình từng DN, từng tờ khai, từng loại hàng, từng nước nhập và xuất hàng vào VN... Đây cũng được đánh giá là nguồn thông tin duy nhất hiện nay có khả năng tổng hợp đầy đủ và tức thời về tình hình hàng hoá xuất nhập khẩu của Việt Nam.

    Biến Áp Lực Hội Nhập Thành Hành Động


    Cục Hải Quan Đồng Nai

    Ngay từ những ngày đầu bắt tay vào tin học hóa, HQ VN đã sớm đặt quyết tâm phải rút ngắn thời gian và hiện đại hóa thủ tục thông quan vì nó liên quan trực tiếp đến các hoạt động chuyển hóa hàng của DN. Tính đến nay, để đáp ứng yêu cầu trên, ngoài việc hình thành 8 trung tâm cơ sở dữ liệu (CSDL) tại các cục HQ trọng điểm, ngành HQ đã nghiên cứu xây dựng hàng chục chương trình ứng dụng tin học, trong đó có nhiều chương trình được áp dụng thống nhất tại 150 chi cục HQ trên toàn quốc như: hệ thống quản lý theo dõi nợ thuế HQ; hệ thống quản lý thông tin vi phạm luật HQ; hệ thống quản lý đăng ký tờ khai; hệ thống đăng ký mã số đối tượng xuất nhập khẩu ... Một số chương trình khác đang được triển khai thí điểm ở các cục và chi cục có lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu lớn như hệ thống thông tin dữ liệu giá tính thuế để hỗ trợ xác định giá tính thuế theo Hiệp định thuế quan GATT, hệ thống hỗ trợ khai báo trước qua phương tiện điện tử...

    Nhờ các hệ thống này, thời gian thông quan của mỗi DN hiện nay đang được rút ngắn dần. Còn với cán bộ HQ, hệ thống quản lý theo dõi nợ thuế HQ và hệ thống quản lý thông tin vi phạm luật HQ được coi như những cẩm nang, trợ thủ đắc lực cho họ mỗi khi phải kiểm tra DN. Tại bất cứ thời điểm nào, cán bộ HQ của các chi cục cũng có thể lên ngay danh sách DN phải cưỡng chế hoặc tra cứu xem DN đã từng có vi phạm gì, bị xử lý ra sao, gắn với lô hàng nào, ở chi cục nào...

    Theo ông Nguyễn Mạnh Tùng, phó cục trưởng Cục CNTT và Thống Kê thì 2 hệ thống trên là những căn cứ rất quan trọng để xác định DN thuộc diện miễn kiểm, kiểm xác suất hay buộc phải kiểm tra 100%. Trước đây, DN bị kiểm tra 100% thì thời gian để chờ xét kiểm của mỗi DN theo tiêu chí không ưu tiên sẽ kéo dài hàng tháng trời. Các hệ thống thông tin giúp HQ đánh giá về DN không bị phiến diện.

    Không thể không nhắc đến một trong những nỗ lực và tiến bộ của Hải Quan Việt Nam  là hệ thống cấp và tra mã số DN xuất nhập khẩu. Cơ chế cấp mã, xin mã và quản lý mã DN hiện nay đã sớm được ký liên tịch giữa ngành HQ và ngành tài chính. Nhờ vậy, kể từ năm 1998, hệ thống quản lý các DN xuất nhập khẩu giữa 2 ngành này đã được thống nhất theo một mã số là mã số thuế do ngành tài chính cấp. Việc thống nhất một mã số chung cho DN có ý nghĩa nền tảng cho các chương trình nối mạng liên ngành sau này để tiến tới ứng dụng Chính Phủ Điện Tử (CPĐT).

    Ông Nguyễn Mạnh Tùng cho biết: việc phát triển các ứng dụng chung trong ngành HQ có điểm thuận lợi là các quy định về chức năng và quyền hạn của mỗi cấp được phân chia rất rõ ràng như: bên dưới không có quyền đưa ra quy trình; các hệ thống phần mềm của ngành phải thống nhất theo chuẩn chung do Tổng Cục quản lý và triển khai; chỉ những nghiệp vụ đặc thù riêng tại mỗi cục thì cục và chi cục đó mới được tự phát triển nội bộ... Nguyên tắc triển khai cũng được thống nhất: tập trung giải quyết các công việc, các khâu trọng điểm trước, tránh tràn lan; triển khai thí điểm tại các địa bàn trọng điểm có lưu lượng công việc lớn, nguồn thu tập trung như TP.HCM, Hải Phòng, Lạng Sơn, Đồng Nai trước rồi mới triển khai rộng sau. Mục tiêu của Hải Quan Việt Nam là phấn đấu đến năm 2005, 75% quy trình thủ tục HQ với hàng xuất nhập khẩu sẽ thực hiện tự động hóa. Đến năm 2010 sẽ cơ bản thực hiện HQ tự động  trên toàn quốc. Trong đó, nhiệm vụ từ nay đến năm 2005 là tin hóa toàn bộ quy trình nghiệp vụ HQ.

    Khắc Phục Tình Trạng Cải Cách Nửa Vời


    Hải Quan kiểm tra hàng hóa trước khi xuất

    Cứ theo như mục tiêu đề ra ở trên thì chỉ chưa đầy 2 năm nữa các DN xuất nhập khẩu có thể hy vọng tới một nền HQ điện tử tại Việt Nam với tỷ lệ tự động hóa 2/3 công việc. Tuy nhiên, đánh giá về mục tiêu này, ngay chính những người trong ngành cũng không lạc quan nhiều lắm. Ông Tùng cho rằng: đặc thù công việc của HQ là cơ quan tác nghiệp. HQ có mối quan hệ không tách rời với các chủ thể khác như: người khai (DN, cá nhân); các nhà vận chuyển, kho cảng, bến bãi; các cơ quan quản lý khác như thuế, ngân hàng. Do vậy, hệ thống của HQ khi vận hành, nếu bị ách lại ở một khâu liên quan (là một trong các chủ thể trên) thì sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống. Ông Tùng nhận xét: “Các giải pháp cải cách của HQ đưa ra thường rất nửa vời vì không có điểm tựa pháp lý, do đó năng lực thực hiện thường bị hạn chế. Việc tạo ra một hệ thống thủ tục liên hoàn giữa các ngành, các đối tượng sẽ  khó mà đạt được như mong muốn.”

    Chưa kể đến những khó khăn khách quan như ông Tùng nêu trên thì bản thân trong ngành HQ cũng còn muôn vàn khó khăn khác nảy sinh. Theo ông Đặng Hạnh Thu, cục trưởng Cục HQ Đồng Nai thì “vướng lớn nhất của ngành chính là chưa có một chiến lược cụ thể về phát triển CNTT xứng với yêu cầu hội nhập. Những cái mà ngành HQ nêu ra cho vấn đề hội nhập hiện chỉ là những khẩu hiệu mục tiêu chung chung, chưa có tư tưởng xây dựng một hệ thống ứng dụng đạt tiêu chuẩn quốc tế. Cụ thể hơn là một hệ thống có thể đáp ứng yêu cầu kết hợp với các hệ thống khác của ngân hàng, kho bạc, thuế, kho, cảng... hay với hệ thống HQ thế giới. Mà nếu không thực hiện được điều này, Hải Quan Việt Nam cho dù có đầu tư tốt cho CNTT cũng sẽ  đứng trước nguy cơ trở thành “ốc đảo” với các ngành khác. Mặt khác, toàn ngành HQ hiện có 8 trung tâm CSDL và CNTT tại 8 cục HQ trọng điểm nhưng mạng LAN của ngành mới trong giai đoạn thiết lập tại 2 điểm là Cục HQ Hải Phòng và Cục HQ TP. Hồ Chí Minh. Các chi cục HQ hiện nay mới lắp đặt mạng LAN tại bộ phận làm thủ tục chứ chưa kết nối với các bộ phận khác. Như vậy, hệ thống mạng của Hải Quan Việt Nam không chỉ có có nguy cơ trở thành “ốc đảo” với các ngành khác mà còn có nguy cơ trở thành “ốc đảo” ngay chính trong ngành của mình.

    Một cán bộ HQ cũng nhận xét, “các vấn đề tin học của Hải Quan Việt Nam hiện còn hết sức sơ khai”. Đánh giá về quá trình triển khai các ứng dụng trong thời gian qua, ngành HQ cũng thừa nhận rằng họ mới đạt yêu cầu cơ bản là xây dựng một nền tảng để phát triển các ứng dụng. Các khâu nghiệp vụ HQ hiện mới chỉ tự động hóa khoảng 30%. Chính vì vậy, nếu không có quyết tâm cao thì ngành này khó lòng tăng gấp hai lần tỷ lệ trên chỉ trong vòng 2 năm nữa.

    Mặc dù HQ là ngành có nhận thức và hành động khá sớm để tổ chức ứng dụng CNTT nhưng những nỗ lực của ngành HQ hiện vẫn đang trong tình trạng manh mún và nhỏ lẻ. Một giải pháp cho vấn đề này dường như đang được chờ đợi. Nhưng sự chờ đợi của ngành HQ vào thời điểm này rõ ràng không hề thích hợp trước “sức nóng” đang ngày một tăng của nhu cầu hội nhập.

    Thu Hiền

    ID: B0308_22