• Thứ Tư, 07/01/2004 14:54 (GMT+7)

    Cải cách hải quan ở Philipines

    Cục Hải Quan của Philippines đã từng bị xếp vào một trong những cơ quan hành chính quan liêu nhất. Thế nhưng chỉ sau vài năm cải cách, với những hệ thống và thủ tục mới, thời gian thông quan hàng hoá đã được rút ngắn một cách đáng kể, doanh thu thuế tăng mạnh và hình ảnh ngành hải quan được nâng cao một cách rõ rệt.

    Nhận thấy còn nhiều phiền toái, năm 1995, Cục Hải Quan Philippines quyết định thực hiện cuộc cải cách tin học hoá hệ thống hải quan. Dự án kéo dài 5 năm, với sự hỗ trợ về tài chính của Ngân Hàng Thế Giới (WB).

    Hạt Nhân Của Thành Công: ACOS  

    Sau nhiều năm “thai nghén”, hệ thống vận hành hải quan tự động ACOS (Automated Customs Operations System) ra đời dựa trên ASYCUDA, hệ thống dữ liệu hải quan tự động nổi tiếng của UNCTAD (Tổ Chức Thương Mại và Phát Triển của Liên Hợp Quốc) và những điều kiện cụ thể của Philippines. ACOS cho phép thực hiện các thủ tục hải quan từ lúc khai báo hải quan đến khi xuất hàng ra khỏi kho cảng thông qua 6 hệ thống phần mềm.

    1. Thông thường, để hàng hoá được thông quan (clearance), doanh nghiệp phải đến trụ sở Hải Quan để  xuất trình hồ sơ. Với hệ thống khai hồ sơ hải quan điện tử (Electronic Manifest System), doanh nghiệp có thể chuyển bộ chứng từ dưới dạng số hoá tới Hải Quan theo mẫu có sẵn qua thiết bị SITA (Societe Internationale de Telecommunications Aeronautiques) nếu hàng hoá đó được vận chuyển bằng đường hàng không và qua đĩa mềm hoặc email nếu là đường biển...

    2. Chứng từ được xử lý bởi hệ thống mã hoá dữ liệu đầu vào (Electronic Entry Encoding System). Doanh nghiệp có các lựa chọn sau để mã hoá dữ liệu:

    - Chuyển hồ sơ cho trung tâm nhập liệu (Entry Encoding Center) do Phòng Thương Mại và Công Nghiệp quản lý.

    - Tự làm tại văn phòng của mình thông qua hệ thống nhập dữ liệu trực tiếp DTI (Direct Traders Input). DTI nối mạng trực tiếp với Cục Hải Quan và sử dụng hệ thống của Cục để khai báo.

    - Tự làm tại văn phòng của mình thông qua hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử EDI (Electronic Data Interchange). EDI không kết nối trực tiếp với Cục Hải Quan mà thông qua mạng liên lạc thương mại VANs (commercial communications networks of Value-Added Network). Mạng này hoạt động 24/24 giờ và 7/7 ngày. 

    3. Sau khi các dữ liệu đã được nhập vào hệ thống vận hành hải quan tự động, hệ thống tính thuế (Assessment Module) sẽ tự động tính toán số thuế và phí mà doanh nghiệp ngoại thương phải nộp.

    4. Tiếp đến, hệ thống thu thuế và phí (Collection system) sẽ vào cuộc, bao quát toàn bộ các khâu của quá trình thu thuế, phí: từ lúc doanh nghiệp nộp thuế trước tại một ngân hàng được ủy quyền tới lúc những số liệu này được đối chiếu với số liệu mà hệ thống đánh giá đưa ra, cũng như khi khoản thuế và phí được quyết định chuyển tới kho bạc nhà nước.

    5. Một khâu quan trọng trong qui trình thủ tục hải quan là kiểm tra hàng hoá và chứng từ. Nhờ có hệ thống chọn lọc (Selectivity System), công việc kiểm tra của cán bộ hải quan Philippines đã giảm đi rất nhiều. Hệ thống này đối chiếu các dữ liệu đã được nhập vào với 18 tiêu chí kiểm tra. Kết quả là cán bộ hải quan sẽ có một danh sách bao gồm những chuyến hàng được thông quan mà không phải kiểm tra thực tế hàng hoá, các chuyến hàng chỉ phải kiểm tra chứng từ mà không cần phải kiểm tra hàng hoá và những chuyến hàng phải kiểm tra trên cả hai phương diện.

    6. Sau khi kiểm tra, cơ quan hải quan phải ra quyết định có cho hàng hoá thông quan hay không và đuợc hỗ trợ bởi hệ thống  trự̣c tuyến giải phóng hàng khỏi cảng (On-line Release System).  

    Hiệu quả rõ rệt

    Để thực hiện cải cách hệ thống hải quan, Philippines đã phải bỏ ra gần 27 triệu USD, phần lớn là chi phí cho phần cứng và phần mềm. Nhưng những thay đổi sau đây cho thấy khoản đầu tư trên thật xứng đáng.

    Trước tiên là những thay đổi rõ rệt về chất lượng dịch vụ hải quan với “ba không” - không giấy tờ, không xếp hàng, không tiền mặt. Số mẫu giấy tờ phải điền trước đây để xuất trình cho hải quan lên tới 13 thì nay chỉ còn 3 mẫu dưới dạng điện tử. Số chữ ký cần thiết cũng giảm xuống còn 5. Ngoài ra, các doanh nghiệp có thể thanh toán thuế và lệ phí qua ngân hàng, thay vì phải xếp hàng tại các đơn vị thu của hải quan như trước đây. Tiền đóng thuế và phí được chuyển qua hệ thống ngân hàng nên không phải sử dụng đến tiền mặt tại nơi làm thủ tục hải quan. Số hàng hoá phải kiểm tra giảm hẳn: từ 100% kiểm toàn bộ xuống còn 15% kiểm thực tế hàng (luồng đỏ - mức độ rủi ro cao), 15% kiểm chứng từ (luồng vàng – mức độ rủi ro trung bình) và 70% không kiểm tra gì (luồng xanh - mức độ rủi ro thấp). Thời gian giải phóng hàng giảm tối thiểu 3 đến 36 lần (từ 6 - 8 ngày xuống còn 4 - 6 giờ (luồng xanh) và 48 giờ (luồng vàng, luồng đỏ)*.

    Bên cạnh lợi ích trên, về mặt vi mô còn có thể thấy các doanh nghiệp giảm chi phí  đáng kể về thủ tục hải quan, giảm mất mát hàng hoá. Về mặt vĩ mô, chính phủ có thể đẩy lùi những tiêu cực trong ngành Hải Quan và tối đa hoá doanh thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu. 

    Các Bài Học Kinh Nghiệm

    Trong quá trình thực hiện cải cách, thách thức lớn nhất là việc lập kế hoạch và quản lý dự án. Cuộc cải cách được thực hiện trên một diện rộng và có sự tham gia của nhiều đơn vị như Ngân Hàng Thế Giới, Crown Agents, Unisys, UNCTAD và Bộ Tài Chính.

    Ngoài ra, thời gian kéo dài của dự án cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề. Năm 1992 là năm người ta đưa ra những mô tả chi tiết về yêu cầu của hệ thống. Nhưng đến năm 1999, khi dự án sắp sửa hoàn thành thì công nghệ đã thay đổi từ hệ thống dựa trên DOS sang Windows. Gần 550 nút (nodes) và 40 máy chủ (servers) phải được nâng cấp. Ngoài ra, gần 300 yêu cầu thay đổi để thích ứng với hệ thống mới đã khiến chi phí tăng lên 40% so với dự kiến.

    Một bài học lớn cần rút ra là để tin học hoá ngành hải quan thành công, cần áp dụng những phần mềm đạt tiêu chuẩn và đã được thử nghiệm (ASYCUDA là một ví dụ). Dựa trên phần mềm đó và kết hợp với những đặc điểm riêng của từng quốc gia, các ngành có thể tạo ra một phiên bản của riêng mình. ACOS là thành công của sự “xe duyên” đó.

    Thêm nữa, thành công của cuộc cải cách còn nhờ vào sự hợp tác giữa chính phủ với khu vực tư nhân như Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Philippines, SGS, Unisys, Asian Terminal Incorporated... Nhờ đó phát huy được tối đa các nguồn lực.

    Theo www.customs.gov.ph; www.worldbank.com

    * Ghi Chú: “luồng” được phân loại căn cứ vào thuế suất của hàng hoá (ví dụ hàng có thuế suất bằng 0 thuộc luồng xanh) và căn cứ vào việc tuân thủ luật hải quan của chủ hàng (ví dụ nếu chủ hàng trong một năm tính đến ngày đăng ký tờ khai chưa vi phạm buôn lậu hoặc trốn thuế và không bị xử phạt hành chính quá 5 lần thì hàng hóa đó thuộc luồng xanh).

    Hồng Nhật

    ID: B0308_29