• Thứ Năm, 15/01/2004 15:56 (GMT+7)

    Chính phủ Trung Quốc làm gì để thúc đẩy nền công nghiệp phần mềm?

    Những nỗ lực của Trung Quốc thể hiện quyết tâm của Chính Phủ đưa ngành CNpPM Trung Quốc còn khá non trẻ vươn lên vị trí cao của khu vực (vượt Ấn Độ) trong tương lai gần.

    Từ Những Bước Đi Ban Đầu


    Lễ trao giải 10 DN phần mềm hàng đầu Trung Quốc (Top ten leaders of domestic software enterprises) được tổ chức vào tháng 3/2002, tại thành phố Bắc Kinh. 

    Nền CNpPM Trung Quốc có thể khái quát bằng các từ: “non nớt, đa nhưng chưa tinh”.

    Ông Lại Chí Bân, phó chủ tịch Công ty phần mềm Toàn Phương (Trung Quốc) cho biết: “Để được coi là một công ty PM cần 2 yếu tố: có sản phẩm PM của chính mình và nắm giữ một thị phần nhất định. Ở TQ rất ít doanh nghiệp (DN) làm được như vậy”. Nói “đa nhưng chưa tinh” vì mặc dù số lượng DN khá lớn nhưng chỉ thấy thấp thoáng một số DN ở qui mô lớn và chuyên nghiệp. Tính đến năm 2002, tổng số DN phần mềm (PM) Trung Quốc (không tính các DN có vốn đầu tư nước ngoài) là 4.056. Trong đó, 65,9% là DN nhỏ, với ít hơn 50 nhân viên và thành lập chưa được 5 năm; 28,7% DN có từ 50-200 nhân viên; chỉ 4% có hơn 1000 nhân viên và doanh thu hơn 60 triệu USD/năm như CS&S, UFSoft Group, Founder, NEU-Alpine...Tuy nhiên, doanh thu của các DN lớn lại không phải hoàn toàn từ các sản phẩm PM, bởi các DN Trung Quốc (TQ) thường hoạt động đa dạng. Các công ty lớn như Founder và Legend đều hoạt động rất mạnh trong lĩnh vực phần cứng.

    Còn nói CNpPM TQ “non nớt” vì sản phẩm PM của chính các DN trong nước chưa nhiều và năng suất thấp. Theo một bài báo trên IEEE Software (2001), năng suất của nhân viên phát triển PM của TQ thấp (khoảng 25.000 USD/năm), chỉ bằng 1/7 của các nước phương Tây, chủ yếu do quản lý kém.

    Với một nền công nghiệp mới chớm nở như vậy, thị trường PM TQ tất yếu bị chi phối bởi những kẻ mạnh, mà không ai khác chính là Microsoft, IBM, Oracle... mặc dù các DN nước ngoài này chỉ chiếm 6% tổng số DN PM TQ.

     

    Đến Mục Tiêu Vươn Lên Vị Trí Hàng Đầu Khu Vực

    Tháng 2/2002, sau chuyến thăm Ấn Độ, Thủ Tướng Chu Dung Cơ đưa ra mục tiêu TQ sẽ vượt Ấn Độ trong lĩnh vực PM trong vòng 2 năm tới (2004). Liệu có thể coi đó chỉ như một ước mơ vươn tới vị trí mà hiện nay Ấn Độ đang chế ngự, bởi theo công ty nghiên cứu CNTT toàn cầu Gartner, tới năm 2006 thì TQ mới có́ khả năng đuổi kịp Ấn Độ về gia công PM? Tuy nhiên, tuyên bố của Thủ Tướng thể hiện quyết tâm của TQ phát triển ngành CNpPM lên vị trí tầm cỡ khu vực.

    Sau khi dồn sức phát triển công nghiệp phần cứng, CP TQ đã nhận ra mắt xích quan trọng nhất và cũng là yếu nhất trong ngành CNpCNTT của mình chính là ngành CNpPM. Vì thế, trong kế hoạch 5 năm lần thứ 10 (2001-2005), ngành CNpPM đã được đặt vào đúng vị trí của nó là trụ cột đảm bảo cho phát triển kinh tế và an ninh thông tin quốc gia. Tổng chi phí đầu tư phát triển cho ngành CNpPM của TQ được CP đề ra trong kế hoạch 5 năm lần thứ 10 là 4 tỷ NDT (480 triệu USD). Với tầm quan trọng đó, đến năm 2005 ngành phải đạt được những mục tiêu sau:

    •   Tăng thị phần của các DN PM lên 63% (năm 2002 là 33%)

    •   Xuất khẩu PM đạt 5 tỷ USD (năm 2002 là 1tỷ USD)

    •   Doanh thu ngành đạt 30,23 tỷ USD, chiếm 3% thị phần doanh thu PM thế giới (năm 2002 là 13,3 tỷ USD, chiếm 1% thị phần doanh thu PM thế giới).

     Tuy nhiên, mức độ tăng trưởng rất cao trong những năm qua của ngành (trung bình 30%/năm kể từ 1995) và những nỗ lực của CP khiến nhiều người tin rằng các mục tiêu trên sẽ đạt được.

     

    Để Hiện Thực Hoá Ước Mơ

    Với một ngành CNpPM còn non trẻ như vậy, chắc chắn nếu chỉ các DN PM trong nước “gồng mình” lên thì các mục tiêu trên chỉ dừng lại ở ước mơ mà thôi. Vậy nên CP TQ đã vào cuộc với các vai trò̀:

     

    Chính phủ - Người đưa ra định hướng, chính sách

    Tháng 6/2000, CP đưa ra chính sách thúc đẩy ngành CNpPM trong nước, trong đó qui định các ưu đãi về thuế cho các DN PM: miễn thuế nhập khẩu và VAT đối với tất cả thiết bị và công nghệ nhập khẩu; giảm thuế VAT từ 17% xuống 3%; hoàn thuế VAT để nghiên cứu, phát triển hay mở rộng sản xuất; cho vay tín dụng với mức lãi suất ưu đãi khi DN xuấ́t khẩu PM, miễn thuế thu nhập DN trong hai năm đối với DN mới thành lập... Chính sách này được coi là ưu đãi nhất từ trước tới nay dành cho các DN PM.   

    Ngoài ra, CP còn đưa ra định hướng: nghiên cứu phải tiếp cận với thực tiễn. Vì thế, CP quyết định xây dựng mô hình tam giác vàng “học tập-nghiên cứu-ứng dụng”. Năm 2001, CP quyết định xây dựng 10 khu CNpPM quốc gia trên cơ sở các công viên PM cũ tại 10 thành phố lớn (trước đó đã có 48 công viên PM trên khắp đất nước). 10 khu tập trung này được tạo môi trường thuận lợi hơn cho phát triển CNpPM và đều nằm gần các trường đại học, viện nghiên cứu khoa học, các DN PM chủ chốt. Định hướng này là cần thiết bởi theo Frank He, chủ tịch một công ty PM có trụ sở tại Dallas (Mỹ), nghiên cứu ở TQ còn cách quá xa so với thực tế. Ví dụ, tỷ lệ kết quả công trình nghiên cứu để cấp bằng tiến sỹ trở thành sản phẩm ra thị trường là 1/500. Trong khi đó, ở Mỹ tỷ lệ này là 1/100.

    Một chiến lược rất quan trọng của CP TQ đối với ngành CNpPM là chiến lược “song hành”, tức là ngành CNpPM sẽ hướng tới cả thị trường trong nước lẫn ngoài nước. Việc chỉ hướng tới thị trường quốc tế như Ấn Độ sẽ khiến TQ lơ là thị trưòng nội địa, một thị trường vô cùng rộng lớn và đang là đích ngắm của các công ty PM nước ngoài.

    Theo một báo cáo của Viện Khoa Học TQ, nếu tất cả các ban ngành trung ương và chính quyền địa phương đều sử dụng PM của Microsoft thì CP sẽ phải bỏ ra 21,7 tỷ USD trong vòng 5 năm tới. Còn nếu sử dụng các PM trong nước sản xuất thì chỉ mất 1,96 tỷ USD. Mức chênh lệch lớn này (19,74 tỷ USD) đã khiến CP thực sự phải xem xét lại  chính sách chi tiêu của mình.

    Vì thế, có lẽ chẳng mấy ngạc nhiên khi tháng 8 năm nay, ông Cao Chí Cương, một quan chức của Trung Tâm Thẩm Định Sản Phẩm Công Nghệ thuộc Ủy Ban KHKT Nhà Nước tuyên bố chính sách “tất cả các bộ ngành đều phải mua PM được sản xuất trong nước khi tiến hành nâng cấp hệ thống máy tính”. Chính sách này dự kiến sẽ có hiệu lực từ cuối năm nay đến năm 2010.

    Chính phủ - Người tiêu dùng lớn nhất

    Trong suốt mấy năm qua, CP TQ đã có những hành động tích cực để thể hiện vai trò là khách hàng lớn nhất của các DN PM trong nước.

    Điển hình như việc sử dụng WPS2000, một PM đóng gói về văn phòng bằng tiếng TQ do công ty KingSoft phát triển (giá chỉ bằng 1/3 so với bộ Office  của Microsoft) đã được chính quyền các cấp đón nhận nồng nhiệt. Năm 2001, chính quyền thành phố Bắc Kinh yêu cầu tất cả các phòng ban của họ mua WPS2000. Một năm sau đó, tỉnh Quảng Đông cũng mua hơn 4.000 bộ. Tính đến hết 2002, CP đã mua tổng số là 50.000 bản  WPS2000.

    Hồng Kỳ Linux, hệ điều hành (HĐH) mã nguồn mở của công ty Hồng Kỳ cũng ngày càng trở nên phổ biến. Năm 2001, Hồng Kỳ thắng Microsoft trong cuộc đấu thầu hợp đồng cung cấp PM cho chính quyền Bắc Kinh. Năm 2002 và 2003, các cơ quan khác như Bưu Điện TQ, Cục Thống Kê thuộc Bộ Giáo Dục TQ, các dự án của UB Kế Hoạch Nhà Nước, UB Thương Mại và Kinh Tế Bắc Kinh... đồng loạt áp dụng HĐH này.

     

    Chính phủ - Nhà đầu tư lớn

    Khách quan mà nói, sở dĩ các sản phẩm như WPS2000 của Kingsoft và Hồng Kỳ Linux được nhiều cơ quan trong nước sử dụng một phần vì chính chất lượng cao của chúng. Mặt khác, WPS sử dụng ngôn ngữ tiếng Trung nên phù hợp với số đông người sử dụng và giá cả cạnh tranh hơn rất nhiều. Còn HĐH Hồng Kỳ trong các cuộc đấu thầu cũng đã vượt qua tất cả các cuộc kiểm tra thử nghiệm. Nó có những đặc điểm rất ưu việt như tính mở, khả năng tích hợp, nâng cấp, tính an toàn, đáng tin cậy, và khả năng đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Trên thực tế, Hồng Kỳ Linux là kết quả từ một dự án về HĐH mã nguồn mở đã được CP giao cho Trung tâm Nghiên Cứu PM thuộc Viện Khoa Học TQ nghiên cứu từ cuối những năm 90, với tổng kinh phí là 50 triệu NDT (6,04 triệu USD). Sau đó, năm 2000, Công ty Hồng Kỳ  ra đời do chính Trung tâm Nghiên Cứu PM và Quỹ Đầu Tư Mạo Hiểm (New Margin Venture Capital) đồng sáng lập. Lúc này, HĐH Hồng Kỳ Linux được Bộ Công Nghiệp Thông Tin tài trợ để thương mại hoá. Như vậy, có thể thấy, từ định hướng tới đầu tư và sử dụng sản phẩm HĐH Hồng Kỳ hoàn toàn không phải mang tính ngẫu nhiên mà thực chất kế hoạch này đã được CP đề ra từ trước.

    Tuy nhiên, để vươn tới tầm cỡ khu vực, ngành CNpPM cần “hướng ngoại” hơn nữa vì hiện nay, 90% sản phẩm PM của DN TQ tiêu thụ trong nước. Để đạt được mong muốn trở thành quốc gia nổi tiếng về gia công PM như Ấn Độ, TQ còn kém ở nhiều mặt như tiếng Anh, uy tín quốc tế, và chất lượng. Vì thế, CP đã quyết tâm đầu tư cho ngành CNpPM trên nhiều phương diện. Về đào tạo, Bộ Giáo Dục đã bắt đầu triển khai kế hoạch quốc gia xây dựng 35 viện PM tại các trường đại học và mỗi năm sẽ có 17.500 nhân viên chuyên nghiệp gia nhập lực lượng làm PM. Như vậy, mục tiêu TQ sẽ có 800.000 chuyên gia, nhân viên PM đến năm 2005 là hoàn toàn có thể thực hiện được.

    Để có thể tạo uy tín trên thị trường quốc tế, các DN đang phấn đấu để được cấp chứng chỉ CMM (Capability Maturity Model) và hệ thống đảm bảo chất lượng GB/T19000-ISO9000. Vì thế, CP quyết định sẽ tài trợ cho các DN đang xin cấp chứng nhận CMM thông qua Quỹ Phát Triển Ngoại Thương Trung Ûơng. Tháng 12/2002, Neusoft đã nhận được chứng nhận CMM mức 5.

    Ngoài ra, CP còn tài trợ các dự án nghiên cứu của DN. Ví dụ, CP đã tài trợ cho công ty Jade Bird để nghiên cứu và phát triển sản phẩm PM xử lý dữ liệu của chính TQ với mong muốn sản phẩm đó có thể cạnh tranh với các sản phẩm của Oracle và Sybase.

    Trong bài “Cuộc chiến PM giữa TQ và Ấn Độ” (www.wired.com), tác giả Manu Joseph cho rằng ngành CNpPM của TQ là một mối đe doạ lớn đối với Ấn Độ: “Một ngày nào đó, Ấn Độ sẽ thức giấc và nhận thấy mình đã bị TQ đánh bại”. Nhìn nhận những nỗ lực lớn lao của CP TQ trong thời gian vừa qua, có thể “một ngày nào đó” sẽ không còn quá xa!

    Tổng hợp từ www.peopledaily.com.cn; www.asia.cnet.com;  www.london.edu,...

     

    Hồng Nhật

    ID: B0311_20