• Thứ Tư, 14/01/2004 09:25 (GMT+7)

    Kinh nghiệm các doanh nghiệp đã đạt CMM

    PSV: một CMM mới

    Tháng 11 vừa qua, Paragon Solutions Việt Nam (PSV) đã trở thành công ty PM thứ hai tại Việt Nam đạt chứng chỉ CMM 4.

    PSV hoạt động trong lĩnh vực PM giáo dục, y tế, khách sạn, bất động sản...hầu hết sản phẩm đều xuất sang Mỹ. Ban đầu, PSV muốn thay đổi quy trình làm PM dạng Waterfall (thác đổ)thông thường: nhận yêu cầu từ khách hàng, lần lượt chuyển qua các khâu thiết kế, lập trình, kiểm tra, cuối cùng ra thành phẩm gửi khách hàng. Với quy trình này, khách hàng muốn thay đổi yêu cầu rất khó vì không biết cần sửa chữa đoạn chương trình nào? Sau nhiều tìm tòi, PSV tìm đến quy trình Rational Unified Process (RUP) của hãng Rational (nay đã được IBM mua lại). Quy trình này thay cách làm từ trên xuống dưới bằng cách chia nhỏ và lặp lại nhiều lần. RUP cũng là khởi đầu của CMM.

     

    “Những khó khăn chủ quan liên tiếp năm 2000 đã khiến PSV không đạt kết quả như mong muốn” - ông Ngô Hùng Phương, TGĐ PSV nhớ lại. Giai đoạn từ 2000-2002, đúng vào thời điểm tích cực chuyển đổi quy trình, PSV thay đổi đến 3 đời tổng giám đốc. Chính vì vậy mục tiêu CMM 3 ban đầu đã không đạt, tổ chức QAI (Quality Assurance of Institute India - Viện Quản Lý Chất Lượng Ấn Độ) chỉ xét PSV đạt mức CMM 2. Bài học rút ra: nhân sự không ổn định sẽ tác động không nhỏ đến quy trình quản lý sản xuất, dẫn đến chất lượng PM cũng giảm sút.

    Năm 2002, nhóm SEPG (Software Engineering Process Group) chuyên lập quy trình, nhóm SQA (Software Quality Assurance) chuyên kiểm tra thực hiện quy trình, vốn ̃ được hình thành khi PSV tiếp cận CMM, được củng cố. Hai nhóm này tập hợp những chuyên viên nhiều kinh nghiệm nhất của công ty. SEPG có 5 người, dựa trên hoạt động của PSV và chuẩn CMM chung để thiết kế từng bước công việc phải làm rồi chuyển giao quy trình cho nhóm Trainning (huấn luyện) và phụ giúp hình thành từng khóa học cụ thể trong công ty. SEPG mỗi tuần họp một lần với tổng giám đốc để giải quyết khúc mắc phát sinh. SQA có 4 người, sẽ kiểm tra đôn đốc mọi người làm đúng quy trình. Người quản lý của các bộ phận sẽ kiểm tra một lần nữa để đảm bảo tiến độ và chất lượng công việc.

     

    Quy trình mới làm cho công việc có vẻ kéo dài ra: ngoài công việc thiết kế, lập trình, thông thường mọi người phải thêm việc điền biểu mẫu, kiểm tra lại, làm việc chung..., thêm thời gian học quy trình bên cạnh thời gian học kỹ thuật mới. Song, quy trình mới rất có tác dụng trong việc tạo ra số liệu đo chất lượng, thời gian và năng suất thực hiện mỗi dự án để điều chỉnh kịp thời. Thế là nhân viên công ty nhận ra rằng thời gian kéo dài ban đầu chính để giảm thiểu thời gian tìm kiếm giải quyết những phát sinh vì nhìn rõ phát sinh từ khâu nào. Thành quả đạt được: 80% đơn đặt hàng tại PSV đều do khách hàng cũ mang lại, 100% khách hàng hài lòng với chất lượng PM của PSV.

    Theo ông Phương, công ty càng ít dữ liệu thời gian đạt CMM sẽ càng kéo dài vì để đạt CMM 4 ít nhất phải dựa trên 3 lần thu thập dữ liệu để đánh giá. Với PSV, việc liên tục nhận được hợp đồng cũng là một lợi thế rút ngắn đoạn đường đến CMM 4. Chi phí trung bình mỗi năm cho CMM của PSV ước chiếm khoảng 5% lợi nhuận.

    Ông Phương khẳng định: “Không dừng lại ở đây, PSV đang tiến đến CMM 5 (bước tối ưu hoá quy trình) và sẽ không ngừng phấn đấu nâng cao chất lượng PM”.

     

    FSoft: kinh nghiệm sau một năm làm CMM

    Đầu năm 2001, khi quyết định làm CMM, FSoft (thuộc FPT) đã có sẵn quy trình PM đạt chuẩn ISO 9001:2000, được đánh giá là “gần tương đương” với bậc 3 của CMM. Sau khi đánh giá khoảng cách (gap analysis) giữa quy trình hiện có và các yêu cầu của CMM, công ty đã chọn bậc 4.

    Việc đầu tiên mà FSoft làm là thành lập một Phòng Quy Trình PM (SEPG – Software Engineering Process Group) nhằm mục đích quản lý và cải tiến quy trình. Sau này, SEPG chính là động cơ chủ lực để kéo guồng máy CMM. SEPG có nhiệm vụ chuyên quản lý các quy trình, số đo (metric), các CSDL và công cụ hỗ trợ (như công cụ quản trị dự án, theo dõi lỗi, khai timesheet). Bên cạnh đó, FSoft còn hình thành các đội khác như: đội chuyên trách về chất lượng sản phẩm (Software Quality Assurance - SQA); đội chuyên đào tạo và tổ chức các hội thảo, lớp học, các đợt thi đua (FIST); đội chuyên thiết kế và viết tài liệu, cải tiến quy trình (SPI - là một thành phần của SEPG).

     

    Công việc quan trọng của SEPG là tập hợp các dữ liệu sản xuất của FSoft, đưa ra những số đo, so sánh với kỳ trước, phân tích tìm vấn đề và đề xuất các hành động khắc phục. Sau khi ban lãnh đạo xem xét phê duyệt, sẽ đặt ra tiêu chuẩn (norm) của các giai đoạn sau cho từng số đo như số lỗi (defect rate), năng suất, chi phí chất lượng (quality cost).

    Đầu vào của báo cáo phân tích là CSDL quy trình (PDB - process database), nơi chứa số đo của tất cả các dự án đã kết thúc trong quý đó. Đến lượt mình, các số đo của mỗi dự án được lấy từ PDB - công cụ quản trị dự án định lượng. Dùng PDB, các nhà quản trị dự án luôn theo dõi được tiến độ của dự án ở mọi góc độ: mức độ hoàn thành, số lỗi, mức tiêu thụ nguồn lực. Tất cả đều được thể hiện bằng số và cập nhật hàng ngày.

    Các hệ thống này đã tạo thành một vòng quản lý khép kín của FSoft, cho phép đặt tiêu chuẩn chất lượng cho các dự án, đo đạc thường xuyên, phân tích định kỳ rồi lại cải tiến và đưa ra những chuẩn mới cho giai đoạn tiếp theo. Đây là các vũ khí chính để FSoft đạt được CMM bậc 4.

     

    Trong quá trình triển khai CMM, FSoft đã rút ra ba bài học lớn:

    *   Trước hết cần một cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo và đội ngũ quản lý vì không phải chỉ duyệt một khoản kinh phí là có thể giải quyết mọi vấn đề.

    *   Thứ hai, cần tìm được tổ chức tư vấn có những Lead Assessor (chuyên gia đánh giá trưởng) do SEI công nhận và cấp chứng chỉ. Họ sẽ tư vấn và tiến hành đánh giá trong suốt quá trình cũng như đánh giá chính thức vào thời điểm cuối cùng. FSoft đã chọn công ty KPMG Ấn Độ làm tư vấn, vì công ty này đã giúp rất nhiều công ty giống FSoft tại Ấn Độ thành công, đồng thời KPMG là một tên tuổi lớn trên thị trường tư vấn quốc tế.

    *   Thứ ba, đội ngũ chịu trách nhiệm làm CMM phải có thẩm quyền lớn và có khả năng sử dụng những quyền đó.

     

    Điểm khác nhau căn bản sau một năm FSoft đạt CMM 4 là: đơn vị này có một hệ thống dữ liệu mà trong đó mỗi nhân viên sẽ tìm được các tiêu chí để đánh giá cụ thể công việc; Ban lãnh đạo có khả năng kiểm soát được chính xác chất lượng sản phẩm đồng thời dự báo được chất lượng sản phẩm, thời gian hoàn thành, công sức và những công việc phải thực hiện ngay khi làm việc với khách hàng.

    Theo ông Nguyễn Lam Phương, PGĐ FSoft thì hiệu quả công việc được thể hiện bằng chỉ số lỗi phải làm lại hiện nay được giảm xuống còn khoảng10% (trước đó là 20-25%); mức độ không kiểm soát thông tin về dự án hiện nay giảm còn  25% (trước là trên 50%).

     

    CDIT: kinh nghiệm nâng cao chất lượng PM

     

    Hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất PM phục vụ ngành viễn thông, một ngành có đòi hỏi cao về tính chính xác và độ tin cậy đối với mỗi sản phẩm ứng dụng,  với phương châm “chất lượng là yếu tố quan trọng hàng đầu”, CDiT đã thực hiện mô hình CMM 3 ngay sau khi đạt chứng chỉ ISO 9001:2000. Câu hỏi được đặt ra đầu tiên với ban lãnh đạo công ty là: Một tổ chức vừa thực hiện ISO, vừa thực hiện CMM sẽ phải quản lý như thế nào? Vấn đề này đã được giải quyết bằng việc tích hợp hệ thống quản lý chất lượng thành một hệ duy nhất, với một lần đánh giá, mộ̣t ban chỉ đạo, một đại diện lãnh đạo về chất lượng. Hệ thống này phải dễ dàng kiểm soát và được duy trì với chi phí thấp nhất. Thông qua việc tích hợp các quy trình chất lượng theo CMM vào quy trình  sản xuất PM theo chuẩn ISO 9001:2000, ban lãnh đạo CDiT có thể xem xét, đánh giá các mục tiêu, chính sách của mình trên phương diện tổng thể một cách đơn giản.  Đó chính là một sáng tạo độc đáo của CDiT.

     

    Bên cạnh yếu tố xây dựng quy trình quản lý, CDiT còn nghiên cứu tự đề ra các tiêu chí và phương pháp nhằm đánh giá, kiểm soát chất lượng PM tối ưu trước và trong khi chuyển giao cho khách hàng. Các tiêu chí đánh giá về phần mềm của CDiT được xây dựng dựa trên 6 đặc tính chất lượng nêu trong tiêu chuẩn ISO/IEC 9126 và áp dụng tiêu chuẩn ISO/IEC 12119:1994 để đánh giá chung cho các tài liệu hướng dẫn, tài liệu mô tả sản phẩm, chương trình và dữ liệu.

    Trong thời gian tới, CDiT sẽ được chủ trì xây dựng một Trung Tâm Kiểm Định Chất Lượng (Test Lab) của Tổng Công Ty BCVT. Với trung tâm này, CDiT dự kiến sẽ hình thành các công cụ kiểm định và phòng thí nghiệm để không chỉ kiểm định chất lượng phần cứng của các thiết bị viễn thông mà còn kiểm định cả chất lượng các sản phẩm PM trước khi triển khai trên mạng lưới.

     

    ID: B0312_22