• Thứ Hai, 01/03/2004 10:50 (GMT+7)

    Cần lập các Hội Đồng Khoa Học và Đào Tạo tầm cở quốc gia về CNTT

    Mùng 9 Tết. Tại Hà Nội, đã diễn ra Hội thảo "Đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực CNTT ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2005", do Bộ Giáo Dục - Đào Tạo (GD-ĐT) kết hợp với Bộ Khoa Học, Công Nghệ và Môi Trường, Uỷ Ban về người Việt Nam ở Nước Ngoài, AITCV (Trung tâm AIT tại Việt Nam) cùng tổ chức. 

    Hội thảo đã thu hút gần 300 đại biểu thuộc 3 Bộ, nhiều tỉnh thành, nhiều trường đại học, cao đẳng và 4 tổ chức nước ngoài. Thu hút sự quan tâm nhiều nhất của các đại biểu vẫn là những câu hỏi xoáy vào vấn đề làm sao thực hiện chỉ tiêu đào tạo 50.000 chuyên gia CNTT theo Chỉ Thị 58-CT/TW của Bộ Chính Trị; 25.000 chuyên gia trình độ cao và lập trình viên chuyên nghiệp, thông thạo tiếng Anh, cùng 500 triệu USD doanh số phần mềm vào năm 2005 theo Nghị Quyết 07/2000/NQ-CP của Chính Phủ.

    Những câu hỏi thường trực được hầu hết các diễn giả đặt ra là:

    Cơ cấu, chức danh, chất lượng các chuyên gia CNTT ấy sẽ là những gì?
    Liệu chưa chuẩn hoá được sản phẩm thì sẽ đào tạo hay sử dụng thế nào, chất lượng sau đào tạo sẽ ra sao?
    Cơ sở hạ tầng truyền thông yếu kém song cước phí internet lại đắt đỏ, trường thiếu thiết bị, giáo trình chưa chuẩn hoá và cập nhật, thầy dạy quá tải, trò học chay... Vậy liệu sản phẩm sau đào tạo lấy gì đảm bảo sẽ là chuyên gia?...
    Các vấn đề ngợp lên, khiến người ta liên tưởng đến hình ảnh cỗ xe tam mã muốn chạy nhanh nhưng con đường quê vẫn đang còn quá nhiều ổ gà, ổ voi.
    Muốn "dặm lại nền", cần đổi mới và "nhảy vọt" về tư duy tổ chức đào tạo. Và cần những gì nữa?
    Mời bạn theo dõi những ý kiến hân tích và đề xuất có giá trị, do các nhà khoa học nêu lên từ diễn đàn của Hội thảo.

    Điều làm tôi lo lắng nhiều nhất là chất lượng của công tác đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển CNTT. Nếu chất lượng đào tạo không đảm bảo thì sản phẩm làm ra sẽ không đủ sức cạnh tranh trên thị trường, cả ở trong nước lẫn ở nước ngoài. Trong khi đó, sự cạnh tranh với nhiều quốc gia Châu Á sẽ diễn ra rất gay gắt...
    Về cơ bản, tôi tán thành những quan điểm của Bộ GD-ĐT về việc thực hiện một Chương trình đào tạo nguồn nhân lực cho CNTT trên quy mô toàn quốc, có sự chỉ đạo thống nhất của Bộ GD-ĐT phối hợp với  Bộ KHCN & MT. Về nội dung, Chương trình cần có sự chuẩn bị kỹ, với sự tham gia của các nhà khoa học công nghệ, các nhà doanh nghiệp và các nhà quản lý chủ chốt thuộc lĩnh vực CNTT và các lĩnh vực có liên quan.
    Cốt lõi của Chương trình phát triển CNTT ở nước ta đương nhiên phải là việc phát triển chính bản thân CNTT như một lĩnh vực kỹ nghệ và khoa học công nghệ, phải là việc sản xuất ra các sản phẩm CNTT.

    Tuy vậy, Chương trình phát triển CNTT không phải chỉ có phần cốt lõi nêu trên. Việc ứng dụng các thành tựu mới nhất của CNTT trong các lĩnh vực kỹ nghệ và khoa học công nghệ sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng của tất cả các lĩnh vực đó và sẽ có đóng góp lớn vào sự tăng trưởng kinh tế, đồng thời tạo ra thị trường rộng lớn trong nước cho việc tiêu thụ các sản phẩm CNTT. Điều đó sẽ làm tăng lên gấp bội hiệu quả kinh tế của sự phát triển CNTT.

    Muốn vậy, phải thực hiện hai việc:
    - Thứ nhất, cũng phải chú trọng đầu tư cho việc ứng dụng CNTT.
    - Thứ hai, cần phải tăng thời gian học các môn CNTT trong chương trình đào tạo chuyên gia các ngành công nghệ khác.
    Tôi xin đề nghị  Bộ GD-ĐT cùng Bộ KHCN&MT sớm thành lập các Hội Đồng Khoa Học và Đào Tạo tầm cỡ quốc gia về CNTT, làm tư vấn đắc lực cho hai Bộ trong việc xây dựng chiến lược, quy hoạch và các kế hoạch phát triển CNTT, đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển đó.
    Tôi xin nhấn mạnh: Không có sự đóng góp ý kiến của các nhà khoa học, các nhà doanh nghiệp và các nhà quản lý hàng đầu trong khuôn khổ của một tổ chức chính thức là Hội Đồng Khoa Học, sự phát triển sẽ khó tránh khỏi sự chệch hướng cũng như sự phiến diện.ÿ

    Dự báo nhu cầu nhân lực còn sơ sài
    TSKH Nguyễn Thúc Hải (ĐH Bách Khoa Hà Nội)

    Điều hết sức quan trọng là chúng ta phải có được một cấu trúc cụ thể về nhu cầu nguồn nhân lực. Chẳng hạn: trong 25.000 người làm phần mềm, cần bao nhiêu người trình độ đại học và trên đại học, bao nhiêu người trình độ cao đẳng, kỹ thuật viên? Và trong cấp độ ĐH và trên ĐH, có bao nhiêu người làm phân tích và thiết kế hệ thống, bao nhiêu người lập trình hoặc quản trị dự án phần mềm,...

    Có được một cấu trúc nguồn nhân lực chính xác mang tính dự báo như vậy chắc chắn là không dễ, nhất là dự báo nguồn nhân lực cho một nền công nghiệp đang ở trên mức "zero" chút đỉnh như VN. Nhưng cho dù dự báo còn "thô" đi nữa thì vẫn phải có, nếu không sẽ không thể có một kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực có căn cứ khoa học và thực tiễn. Đáng lo ngại là đến nay, những khảo sát và dự báo về nhu cầu nguồn nhân lực của chúng ta nói chung còn rất sơ sài và không đủ độ tin cậy.

    Nhân lực để xây dựng  kết cấu hạ tầng thông tin quốc gia
    GS Phan Đình Diệu (Đại Học Quốc Gia Hà Nội)

    Một chính sách tích cực phát triển giáo dục - đào tạo về CNTT không chỉ nhằm đào tạo nhân lực cho các chuyên ngành về CNTT, mà còn phải chuẩn bị nhân lực cho việc ứng dụng rộng rãi CNTT vào các ngành khác.

    Nền móng chung tạo cơ sở cho việc phát triển các hoạt động ứng dụng CNTT là một kết cấu hạ tầng thông tin quốc gia hùng mạnh, cung cấp được cho mọi người sử dụng khả năng truy cập đến mọi nguồn thông tin và tri thức cần thiết cho các hoạt động của mình. Việc xây dựng kết cấu hạ tầng thông tin quốc gia và ứng dụng CNTT rộng khắp trong mọi lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, kinh tế, văn hoá của đất nước đang tạo ra những nhu cầu to lớn và một thị trường nội địa rộng mở đối với các sản phẩm phần mềm ứng dụng. Đáp ứng các nhu cầu đó và chiếm lĩnh vững chắc thị trường nội địa đó nên được xem là một ưu tiên đối với công nghiệp phần mềm nước ta trong giai đoạn khởi đầu, trước khi tích luỹ đủ kinh nghiệm, năng lực và bản lĩnh để thi thố trên thị trường quốc tế.

    Xây dựng kết cấu hạ tầng thông tin là một công việc hết sức to lớn, đòi hỏi sự tham gia của một đội ngũ nhân lực thuộc mọi ngành, có hiểu biết về CNTT và những hiểu biết thuộc các ngành tương ứng. Nói cách khác, cùng với việc phát triển giáo dục và đào tạo về CNTT theo nghĩa hẹp của chuyên ngành, ta phải tăng cường giáo dục và đào tạo các năng lực về ứng dụng CNTT, các hiểu biết về tổ chức, khai thác thông tin, phát hiện và sử dụng tri thức trong nhiều ngành kinh tế, văn hoá, xã hội khác nhau. Có như vậy mới tạo ra được năng lực tri thức tổng hợp, làm nên những ưu thế cạnh tranh cần thiết trong nền kinh tế tri thức tương lai.

    Nên lồng ghép với các ngành khác
    GS TSKH Nguyễn Đình Ngọc (Đại Học Thăng Long)

    Theo kinh nghiệm của một số nước đã phát triển về CNTT, sự đóng góp trực tiếp của CNTT vào GDP vẫn còn nhỏ, khoảng 10%, song quan trọng hơn - và cũng lâu mới thấy được, nhưng đã thấy được thì tin được - là đóng góp gián tiếp qua các ứng dụng CNTT vào các ngành kinh tế - xã hội khác; tăng cường khả năng phát triển, hợp tác, cạnh tranh của hình thái kinh tế tri thức - xã hội thông tin.
    Do đó, chính sách đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực CNTT nên lồng ghép với các ngành khác,  phát huy vai trò của Bằng 2 về CNTT trên Bằng 1 của ngành chính.
    Đặc biệt, cần chú ý chính sách bồi dưỡng liên tục, theo một số mũi nhọn đã chọn và thực sự nhọn, để đội ngũ CNTT Việt Nam ở trên mũi nhọn đó, thực sự vượt lên trên mức trung bình trong khu vực ASEAN.

    Một trong các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo CNTT là nâng cao các Khoa CNTT trọng điểm theo ISO.900x-2000. Trong khi chờ đợi các Khoa này vươn lên tầm cao ấy, việc cần làm ngay là kiện toàn và nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ giảng dạy cho tương xứng với mặt bằng nền cử nhân - kỹ sư - thạc sĩ - tiến sĩ CNTT (tiếng Anh) Đông Nam Á, và một mặt bằng nền tương tự bằng tiếng Pháp đối với Cộng đồng Pháp ngữ lồng ghép với với mặt bằng nền Pháp - Đức/Cộng

    Nếu tốc độ tư duy của chúng ta rất thấp...
    TS Lê Trường Tùng, Trung tâm Đào Tạo
    Lập Trình Viên Quốc Tế APTECH
    Quan điểm học và dạy hướng theo bằng cấp, tách rời thực tế - đồng nghĩa với việc bỏ qua chất lượng theo quan điểm ISO 9000 - đã làm cho chất lượng đào tạo trở thành vấn đề nóng bỏng.

    Trên khía cạnh nhân lực phần mềm, quan điểm của các công ty phần mềm hiện nay khi nhận sinh viên mới ra trường là không phải nhận người để làm việc ngay, mà là nhận người giỏi để đào tạo lại cho dễ. Với mức độ thay đổi kiến thức CNTT 4 năm/lần, những gì học năm thứ 1 đến năm thứ 4 đã trở nên lạc hậu, việc đào tạo cử nhân, kỹ sư trong 3 năm đã trở thành mô hình phổ biến, kèm theo thách thức là đổi mới phương pháp để nâng cao năng suất dạy và học, nâng cao năng suất tiếp thu kiến thức, nâng cao năng suất tư duy.
    Không thể đi tắt đón đầu nếu tốc độ tư duy của chúng ta thấp hơn rất nhiều so với ở các nước khác, nếu những gì thiên hạ học 3 năm chúng ta học trong 5-6 năm và lấy lý do "chăm chỉ" để an ủi.

    Có thể tham khảo thêm vài con số:
    - Về chất lượng, theo đánh giá của Worldwide Benchmark Project, các công ty phần mềm đỉnh cao hoạt động hiệu quả gấp 200-600 lần các công ty mức thấp.
    - Và trong cùng một công ty phần mềm, theo đánh giá của Software Engineering Institute, với cùng một mức chất lượng, năng suất người làm nhanh cao gấp 30 lần năng suất người làm chậm.
    - Năng suất ảnh hưởng trực tiếp đến lượng sản phẩm làm ra. Năm 2000, giá trị sản phẩm phần mềm bình quân làm một năm của một lập trình viên Mỹ là 168.000 USD, của một lập trình viên Ấn Độ là 15.000 USD, còn của Việt Nam chỉ là 7.000 USD.

    ID: B0203_14