• Thứ Hai, 01/03/2004 11:15 (GMT+7)

    Cần thay đổi sâu sắc hệ thống đào tạo

    Cần thay đổi quan niệm đào tạo hiện nay để tránh... tư duy của người luôn theo sau, và tránh cả tư duy của người đứng bên ngoài sự phát triển của công nghiệp CNTT.

    Phát triển CNTT và quan niệm đào tạo của ta hiện nay
    Đào tạo nhân lực là vấn đề quan trọng hàng đầu để có thể thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển công nghệ thông tin (CNTT) mà Đảng và Nhà Nước đã đề ra. Không cần phân tích dài dòng, ta có thể thấy rất rõ các nhiệm vụ, chỉ tiêu nêu ra về phát triển CNTT trong các văn kiện quan trọng gần đây như Chỉ Thị 58-CT/TW, Nghị Quyết 07/2000/NQ-CP đều mang đặc tính nhảy vọt.
    Thế nhưng nếu tư duy về tổ chức đào tạo không nhảy vọt thì hầu như chắc chắn là các nhiệm vụ ấy sẽ không được hoàn thành. Nói cách khác, cần soi lại quan niệm đào tạo hiện nay theo hướng phát triển của CNTT.

    Hai hướng chính phát triển CNTT:

    Thứ nhất: Đưa CNTT đi sâu vào tất cả các ngành kinh tế, khoa học, kỹ thuật..., các thành phần kinh tế, các cơ cấu xã hội. Nói cách khác, đó là hướng ứng dụng CNTT. Tuy nhiên, nếu hiểu thuật ngữ "ứng dụng CNTT" một cách đơn giản là dùng máy tính trong các ngành, chẳng hạn dùng máy tính để thực hiện các bản vẽ thiết kế trong xây dựng, dùng máy tính để hỗ trợ việc biên soạn phối âm, phối khí cho một tác phẩm âm nhạc thì sẽ hạn chế nhiều trong tư duy đào tạo. Chúng ta sẽ trở lại vấn đề này sau.

    Thứ hai: CNTT tự nó phải là một ngành kinh tế mạnh, chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong cơ cấu thu nhập quốc dân. Nói cách khác, đó là việc xây dựng một ngành sản xuất, dịch vụ CNTT mạnh.

    Quan niệm và tổ chức đào tạo hiện nay phục vụ hai hướng phát triển chính nêu trên:
    Đối với hướng ứng dụng: Tư duy đào tạo phổ biến hiện nay cho hướng này là tư duy của người luôn theo sau.
    Nói chung, hầu như chưa có hệ thống đào tạo nghiêm túc cho phát triển ứng dụng CNTT. Trong quan niệm của chúng ta, ứng dụng là dùng những gì mà giới CNTT chuyên nghiệp đã tạo lập. Vì vậy, thông thường nhiều người cho rằng chẳng hạn nếu ta dạy cho kỹ sư xây dựng biết dùng AutoCad thành thạo là tốt lắm rồi! Đó là cách tư duy của người luôn cam chịu theo sau.
    Có thể khẳng định: các ngành khoa học, bao gồm cả khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học kinh tế, khoa học tổ chức (hai ngành sau nhiều khi được xếp vào KHXH), các ngành kỹ thuật, công nghệ, các ngành nghệ thuật... đều không những chỉ dùng CNTT mà điều quan trọng hơn là cùng CNTT tạo ra các sản phẩm mới, các công nghệ mới cho ngành, các dịch vụ mới; nhờ đó tạo ra những năng lực sản xuất thay đổi hẳn về chất cho các ngành. Với quan niệm đó, người kỹ sư hóa, kỹ sư xây dựng, nhà sinh học, luật sư, cử nhân văn chương... phải có kiến thức về CNTT như kiến thức chuyên ngành của họ. Những sản phẩm trên miền giao tiếp của các ngành khoa học, kỹ thuật, công nghệ với CNTT không phải chỉ thúc đẩy chính ngành đó mà chính là các sản phẩm quan trọng nhất của bản thân CNTT;   là nguồn sống chủ yếu của những sáng tạo về CNTT, đứng từ góc độ CNTT; và là nguồn cảm hứng chính hiện nay của mọi sáng tạo trong mọi ngành khoa học, kỹ thuật, công nghệ khác. Thời gian qua, chúng ta đã hầu như lãng quên vấn đề quan trọng bậc nhất này trong tư duy phát triển công nghệ của các ngành, trong tư duy về phát triển CNTT, trong các hướng đào tạo CNTT.

    Đối với hướng sản xuất: Tư duy đào tạo phổ biến hiện nay là tư duy của người đứng bên ngoài.
    Triển khai thực hiện Nghị Quyết 49/CP về phát triển CNTT ở nước ta trong những năm 90, chúng ta đã xây dựng khá thành công 7 khoa CNTT tại các trường trọng điểm. Cùng với các khoa này, hiện chúng ta có 52 trường đại học khác nhau có đào tạo cử nhân, kỹ sư CNTT, 45 trường cao đẳng có đào tạo cử nhân cao đẳng CNTT, và 49 trường trung cấp tham gia đào tạo CNTT (số liệu năm 2001 từ tư liệu tuyển sinh). Hiện nay, hàng năm có khoảng trên 4.000 cử nhân và kỹ sư CNTT ra trường. Trung bình ở các nước, khoảng 90% số này sẽ đi vào công nghiệp CNTT, 10% còn lại làm nghiên cứu, giảng dạy. Thế nhưng ở nước ta lại không phải như vậy. Có khoảng 20-25% số này đi vào các đơn vị sản xuất kinh doanh CNTT, khoảng 5% làm giảng dạy, nghiên cứu, còn lại khoảng 70% vào các ngành và làm những công việc gọi chung là "ứng dụng CNTT".

    Như vậy, có thể tạo ra một suy nghĩ: dường như có thể... "yên tâm" với việc đào tạo cho ứng dụng. Đào tạo kỹ sư, cử nhân CNTT chủ yếu là để sử dụng CNTT trong các ứng dụng. Có một số khoa CNTT nói rõ là sinh viên ra trường nhắm đến việc làm ở các cơ quan hành chính, thương mại, dịch vụ của mọi ngành. Việc phân bổ cử nhân, kỹ sư CNTT về mọi ngành là do bản thân công nghiệp CNTT ở nước ta còn rất nhỏ, trong khi các ngành khác thì bao nhiêu kỹ sư, cử nhân CNTT cũng hút hết. Các đại học thì khá yên tâm với thực tế là sinh viên ra trường không khó kiếm việc làm, để rồi yên tâm với lập luận cho rằng các đại học CNTT đào tạo lớp người có hiểu biết cơ bản CNTT và có khả năng thích ứng cho nhiều yêu cầu khác nhau trong xã hội. Họ cho rằng đó là điều hoàn toàn hợp lý.

    Gần đây, xuất hiện những tổ chức đào tạo lấy chứng chỉ của các hãng sản xuất CNTT lớn và các hãng đào tạo với khẩu hiệu "nhân lực cho công nghiệp CNTT". Tuy nhiên, hướng này còn rất mới và đang được thực tiễn kiểm chứng về hiệu quả thực sự của nó.
    Tóm lại, trên căn bản việc đào tạo nhân lực CNTT ở bậc đại học không nhằm giải quyết yêu cầu của công nghiệp.

    Tổ chức lại hệ thống đào tạo như thế nào để đáp ứng yêu cầu phát triển CNTT?
    Chúng ta sẽ không bàn về vấn đề đào tạo ở lứa tuổi học sinh phổ thông, đào tạo ở các khoá phổ thông cho mọi người dân theo kiểu trình độ A, B như hiện nay, hoặc thậm chí cao hơn một chút là các lớp dạy một kỹ năng, một ứng dụng khá phức tạp nào đó - chẳng hạn dùng các phần mềm xử lý ảnh, phần mềm tìm kiếm thông tin trên internet. Vấn đề được bàn bạc sẽ là đào tạo nhân lực nhằm 2 mục tiêu cơ bản: phát triển các ứng dụng CNTT, và phát triển công nghiệp CNTT.

    " Cần tổ chức đào tạo nhân lực cho phát triển ứng dụng CNTT như thế nào?
    Các câu hỏi cơ bản ở đây là:
    - Mục tiêu của ứng dụng CNTT là gì?
    - Ai là người phát triển các ứng dụng CNTT?

    Trả lời các câu hỏi đó, chúng ta sẽ nhận ra cần tổ chức đào tạo nhân lực cho ứng dụng CNTT như thế nào.
    Hiện nay, trong mọi ngành khoa học, kỹ thuật, kinh tế thì CNTT đã vượt xa cái ngưỡng là công cụ hỗ trợ. Thậm chí nếu chỉ dừng lại là các công cụ hỗ trợ thì ai tạo ra các công cụ hỗ trợ đó? Nhà sinh học rất am hiểu CNTT sẽ tạo ra các công cụ hỗ trợ tuyệt vời cho nghiên cứu, giảng dạy, sản xuất về sinh học.
    Lập luận thông thường sẽ là: Hãy làm cho 2 người, một nhà sinh học và một chuyên gia CNTT gặp nhau. Đó là một cách làm. Nhưng tại sao chúng ta không làm cho một người có cả 2 nguồn tri thức đó? Làm như vậy có khó không? Chúng tôi cho là hoàn toàn trong tầm tay và sẽ hết sức có lợi. Hơn thế nữa, CNTT, như trên đã nói, nay đã là nguồn cảm hứng chính của mọi sáng tạo trong mọi ngành khoa học, kỹ thuật, công nghệ khác. Nhờ có CNTT mà người ta sáng tạo ra cái đang thu về hàng trăm tỷ đô-la trong nghề buôn bán: đó là "thương mại điện tử", một loại dịch vụ, một công nghệ kinh doanh mới. Nhờ có CNTT,  người ta sáng tạo ra các bộ "điều khiển lập trình được", công nghệ làm thay đổi toàn bộ các thiết bị trong ngành cơ khí và nhiều ngành khác. Với các kỹ sư hóa giỏi, các kỹ sư xây dựng giỏi, các nhà kinh tế giỏi, các nhà sử học giỏi được trang bị tri thức CNTT sâu sắc, chúng ta mới có hiện đại hóa, có công nghệ mới của Việt Nam và mới đuổi kịp thế giới trong các ngành khoa học, công nghệ, kinh tế... Ở đây, tư duy mới là không chỉ dạy cho các kỹ sư, cử nhân các ngành ngoài CNTT biết sử dụng các phần mềm, giải pháp đã được sáng tạo nhờ sự hoà nhập CNTT với tri thức của từng ngành; mà phải dạy CNTT cho họ đến mức đủ sức tạo ra các phần mềm, giải pháp đó.

    " Cần đào tạo nhân lực cho sản xuất CNTT như thế nào?
    Chúng ta chưa có số liệu đầy đủ nhưng không thể yên tâm khi một số công ty phần mềm nói rằng: Phỏng vấn 10 kỹ sư ra trường thì chỉ nhận được vài bạn. Một khảo sát sơ bộ về số kỹ sư CNTT đăng ký ra nuớc ngoài làm việc cho thấy: trong khoảng 200 bạn, chỉ có chưa đầy 30 được tuyển. Đó là những bạn ra trường từ các môi trường đào tạo tốt. Tuy vậy, xin nhắc lại là hầu như chẳng có bạn nào bị... ế! Nhưng đâu phải vì không ế mà chúng ta yên tâm là đào tạo đã đáp ứng tốt cho yêu cầu công nghiệp CNTT về mặt chất lượng.
    Nói cho đúng thì như trên đã đề cập, các đại học có các khoa CNTT cũng đâu có đặt ra cho mình yêu cầu đào tạo đáp ứng cho công nghiệp CNTT. Vì vậy, kỹ sư CNTT không vào công nghiệp là "chuyện bình thường". Chỗ này rõ ràng cần tư duy lại. Kỹ sư, cử nhân CNTT là chủ yếu dành cho công nghiệp CNTT. Phải đào tạo sao cho 70-80% số kỹ sư, cử nhân CNTT sẽ làm CNTT chuyên nghiệp trong các đơn vị CNTT. Như vậy, chất lượng phải nâng cao, phạm vi phải điều chỉnh thích hợp theo năng lực thị trường.

    " Tổ chức lại như thế nào?
    - Về hệ thống đào tạo phục vụ ứng dụng CNTT:
    Hãy xem CNTT như loại khoa học cơ bản cho mọi ngành đào tạo. Đại thể như toán cho các ngành khoa học - kỹ thuật xưa nay vẫn dạy. Kỹ sư mọi ngành khoa học - kỹ thuật đều phải học toán đến độ tinh thông. Các ngành khác nhau có các bộ môn toán chung và có các bộ môn toán riêng. CNTT còn phải "cơ bản" hơn toán nữa là khác. Sinh viên sử có thể không học toán nhưng họ sẽ rất mạnh nếu được học CNTT ra trò như các ngành khác! Và nếu dạy họ CNTT ra trò thì sử học sẽ được không ít. Ở tất cả các đại học, cần có khoa CNTT, nhưng không phải là đào tạo ra các cử nhân CNTT như hiện nay.

    Hiện nay đã xuất hiện một xu thế na ná, đó là các loại kỹ sư CNTT có thêm tiếp vĩ ngữ như kỹ sư CNTT thuỷ lợi, kỹ sư CNTT xây dựng, v.v... Chúng ta cần lật ngược lại một chút! Đó là kỹ sư thuỷ lợi am hiểu sâu sắc CNTT, cử nhân sử học am hiểu sâu sắc CNTT, cử nhân âm nhạc am hiểu sâu sắc CNTT v.v... Các khoa CNTT ở các đại học không chuyên CNTT sẽ nghiên cứu các chương trình CNTT tương ứng cho các ngành đào tạo của trường và truyền cho sinh viên các ngành những tri thức về CNTT làm cơ sở cho điều ta nói ở trên. Đó là nguồn cảm hứng chính và công cụ rất lợi hại cho các sáng tạo của ngành khoa học chính mà họ đã chọn.

    Hơn thế nữa, chúng ta cần thấy rõ một điểm hết sức quan trọng: chính từ thực tiễn của các ngành khác mà nảy sinh rất nhiều các sản phẩm CNTT. Nói cách khác, kỹ sư, cử nhân các ngành khác khi được trang bị tri thức CNTT sâu sắc thì họ làm ra các sản phẩm cho công nghiệp CNTT chẳng ít hơn, nếu không nói là có khả năng còn nhiều hơn so với chính các kỹ sư, cử nhân CNTT chuyên nghiệp. Tóm lại, tất cả các trường (kể cả khoa học xã hội nhân văn) đều cần có khoa CNTT để dạy sinh viên các ngành một cách sâu sắc về CNTT.

    - Về hệ thống đào tạo phục vụ công nghiệp CNTT:
    Nhân lực cho công nghiệp, cho nghiên cứu, cho giảng dạy CNTT thì phải do các đại học, các học viện chuyên về CNTT tổ chức đào tạo. Chúng ta có các đại học, các học viện chuyên về giao thông, chuyên về ngoại giao, chuyên về luật... mà không có các đại học, các học viện chuyên về CNTT thì quả là bất bình thường.
    Trong khoảng 10 năm tới, nếu ta không có hàng trăm ngàn chuyên gia giỏi về CNTT thì khoảng cách tụt hậu sẽ còn tăng ghê gớm. Các nơi đào tạo chuyên về CNTT cần lấy mục tiêu đáp ứng cho công nghiệp CNTT làm mục tiêu hàng đầu. Kỹ sư CNTT không phải dành cho các văn phòng, các đơn vị dịch vụ ở các ngành. Để làm điều đó, các trường hành chính, trường kinh tế sẽ dạy cho sinh viên của mình nghiêm túc về CNTT. Cùng với các đại học, học viện chuyên ngành CNTT, các trường đào tạo hướng nghiệp, đào tạo lấy chứng chỉ của các hãng sẽ cùng tham gia giải quyết nhân lực cho công nghiệp CNTT. Như vậy , chúng tôi đề nghị thành lập càng sớm càng tốt ít nhất 2 đại học chuyên về CNTT thộc 2 Đại Học Quốc Gia. Các khoa CNTT hiện nay được giữ lại một phần làm nhiệm vụ của khoa CNTT cho các trường(không chuyên về CNTT), một phần rút về thành lập vài trường chuyên về CNTT.

    ID: B0203_16