• Thứ Hai, 01/03/2004 11:21 (GMT+7)

    Cứng và mềm trong đào tạo CNTT

    Các Khoa CNTT đều đang xây dựng chương trình của mình trên nguyên tắc có "phần cứng" và có "phần mềm". Tác giả, một cử nhân khoa học máy tính vừa tốt nghiệp ở Đại học Wisconsin (Hoa Kỳ), muốn bàn thêm về vấn đề này nhân Hội thảo về đào tạo và sử dụng nguồn nhân

    Đầu tiên, qua Nghị Quyết 07, Chính Phủ muốn tới năm 2005 ở Việt Nam có 25.000 chuyên gia công nghệ thông tin (CNTT). Đó là chuyện tháng 6/2000. Bốn tháng sau, số chuyên gia đó đã được đẩy lên tới 50.000, theo Chỉ Thị 58 của Bộ Chính Trị. Có vẻ việc đào tạo không có gì là ghê gớm, song vấn đề là 25.000 người ấy - hẵy cứ lấy số nhỏ hơn để làm ví dụ - sẽ có những hiểu biết, khả năng và phẩm chất gì?

    Nếu ta muốn có một phổ nhân lực đa dạng, từ những nhà ứng dụng chuyên nghiệp tới các nhà nghiên cứu lý thuyết tính toán thì chắc cần phải tái cấu trúc lại vấn đề đào tạo.
    Trước hết, có một điều rõ ràng là không thể dạy cho sinh viên tất cả các vấn đề của môn khoa học máy tính. Một trường đại học điển hình ở Mỹ có khoảng 55 học trình là các khoá nhập môn CNTT, chưa kể các khoá nâng cao. Trong khi đó, để tốt nghiệp chỉ cần có khoảng 35 học trình chuyên ngành mà thôi.

    Việc đào tạo cũng giống như việc thiết kế một chiếc xe hơi. Xe cần có một bộ khung vững chắc và không thể biến dạng để bảo vệ người cầm lái khỏi bị bẹp, và cần có phần mũi mềm và dẻo để giảm sốc khi có tai nạn. Bộ khung của đào tạo CNTT là các mô thức (paradigm) cơ bản, ví dụ như hệ thống, cơ sở toán hoặc lý thuyết, trí tuệ nhân tạo... Phần mũi của nó là các chương trình mở rộng hoặc chuyên sâu, các vấn đề cụ thể trong từng mô thức, hoặc các vấn đề lý thú khác đang phát triển và chưa xếp được vào một mô thức sẵn có nào.

    Đó là một mô hình được áp dụng rộng rãi trên thế giới. Vấn đề là có được phép áp dụng hay không, và nếu được thì những người điều hành các trường đại học và các khoa có muốn làm hay không. Nếu câu trả lời là "có" thì việc áp dụng đại loại sẽ phải qua bốn bước.
    Đầu tiên là phân tích tài nguyên. Một cơ sở đào tạo cần hiểu được cấu trúc hạ tầng và con người của mình. Hạ tầng bao gồm các thiết bị và máy móc sẵn có và các công cụ đào tạo và quản lý khác mà mình chưa thấy ở Việt Nam. Tài nguyên con người bao gồm các giáo sư; giảng viên, nhà nghiên cứu... cùng với chuyên môn và khả năng sư phạm của họ. Ngoài hai thứ đó ra, có thể các cơ sở khác nhau sẽ có thêm các loại tài nguyên khác.

    Sau phân tích là thiết kế. Dựa trên các tài nguyên, nhà trường có thể xây dựng một hệ thống khoa học cho mình. Hệ thống này bao gồm các phân nhóm (categories) chính để tạo thành bộ khung các mô thức cơ bản, vài khoa hay môn học cho từng mô thức - mỗi môn có thể thuộc một hoặc vài mô thức để tăng tính uyển chuyển cho chương trình học và để phù hợp với thực tế, hoặc các môn tự chọn ngoài các mô thức. Các mức độ nâng cao cho từng môn học cũng cần có để những người có nhu cầu học sâu hơn và cho đào tạo sau đại học. Việc này có thể làm bằng hai cách. Thứ nhất là thuê các chuyên gia hoặc tổ chức tư vấn giáo dục thiết kế. Thứ hai: bê nguyên một mô hình đã tốt sẵn ở nước ngoài rồi sửa lại cho đúng với các tài nguyên, hoặc thêm tài nguyên cho phù hợp với mô hình, hoặc cả hai.

    Bước thi hành chỉ bao gồm đưa thiết kế vào thực hiện.
    Bước cuối cùng là đánh giá và điều chỉnh.
    Tất nhiên, lộ trình trên đây chỉ là đại khái, đồng thời trình tự thực hiện cũng không nhất thiết phải tuần tự như vậy mà có thể quay lại hay "nhảy cóc" tuỳ theo thực tế. Việc thi hành đa dạng hoá và tuỳ chọn hoá đào tạo còn có lợi ích khác ngoài việc đáp ứng nhu cầu thị trường. Đó là việc tạo cho sinh viên khả năng ra quyết định (học gì) và khả năng tổ chức thời gian (học lúc nào, học gì trước, học bao nhiêu môn một lúc,...).

    Như vậy, họ sẽ nắm quyền chủ động trong giáo dục của mình, thay vì ngồi chờ Khoa xếp lớp cho. Họ sẽ dám thí nghiệm và xông vào một môn học để tìm ra những gì mà họ yêu thích, và sẽ học được cách tin vào sự lựa chọn của chính mình. Với những phẩm chất đó, kết quả của giáo dục sẽ không chỉ là những hành khách, mà sẽ là những người cầm lái trên xa lộ của cuộc sống.

    ID: B0203_19