• Thứ Ba, 27/04/2004 21:09 (GMT+7)

    Giám đốc CNTT - Những bước thăng trầm

    5 thập kỉ đổi mới và biến động, mưu đồ chính trị và cạnh tranh,

    công nghệ và kinh doanh đã rèn đúc CIO - giám đốc công nghệ thông tin - trở thành người điều hành cộng tác duy nhất.


    Paul A.Strassmann, CIO của NASA

    Công nghệ thông tin (CNTT) không còn là chiếc hộp đen trong môi trường cộng tác nữa và các CIO (Chief Information Officer) đã quen với vị trí của họ trong ban lãnh đạo. Nhìn lại qua 5 thập kỉ , các nhà lãnh đạo CNTT đang cân nhắc xem họ sẽ đưa nền công nghệ và vai trò lãnh đạo của mình đến đâu.

    Hãy lắng nghe ý kiến của bốn CIO nổi tiếng để tìm hiểu những thành tựu phát triển 'nền văn hóa CNTT' và sự thay đổi vai trò của nhà lãnh đạo CNTT qua từng thập kỉ. Đó là Charlie Feld, chủ tịch tập đoàn The Feld, cựu CIO của công ty Frito-Lay, Burlington Northern Santa và Delta Air Lines; Paul A. Strassmann, CIO cho NASA, từng là giám đốc IS của General Foods, CIO của Kraft Foods, Xerox và Bộ Quốc Phòng Mỹ; Ralph Szygenda, CIO của General Motors, trước đây làm CIO cho Texas Instruments và Bell Atlantic; và Ron Ponder, CIO của  WellPoint Health Networks, từng là giám đốc xử lí dữ liệu ở Helena Chemical, và CIO cho FedEx, Sprint và AT&T.

     

    Thập Niên 60 - Từ Máy Tính Đục Lỗ Đến Mainframe

    Trong những năm 60, thời kỳ chuyển từ máy tính đục lỗ sang mainframe, CNTT chỉ đơn thuần là tính toán nên công việc chính của một CIO là điều hành xử lí dữ liệu, yêu cầu chủ yếu là khả năng kỹ thuật. Charlie Feld cho biết: 'Chúng tôi điều hành và xử lí các vấn đề kĩ thuật hỗ trợ văn phòng. Thậm chí chẳng ai trong công ty biết chúng tôi đang ở đâu'.

    Xử lí dữ liệu chủ yếu tập trung vào việc tự động hóa các công việc làm bằng tay, nhất là về tài chính và giao dịch. Ron Ponder kể lại: 'Người ta thường nghĩ chức năng này là công cụ dành cho làm việc cộng tác. Thực ra nó có rất ít giá trị gia tăng về thông tin hay với bên ngoài'. Trong lúc CNTT còn là chuyện 'cỏn con' thì CFO (Chief Financial Officer) - giám đốc tài chính - là người có uy thế nhất. Theo Paul A. Strassmann: 'CIO làm việc cho CFO để cài đặt hệ thống cho phép CFO biết tất cả thông tin về chi phí, sản xuất, và vận chuyển. CFO là người đầu tiên nhận ra CNTT đã cho họ sức mạnh bởi họ có thể biết được kết quả từ các xí nghiệp trước cả giám đốc'.

     

    Thập niên 70 - thời của váy mini và máy tính mini


    Ralph Szygenda, CIO cuãa General Motors

    Trong những năm 70, các kĩ sư, các nhà sản xuất và tiếp thị bắt đầu tranh ngôi độc tôn của CFO. Họ đã ứng dụng máy tính mini trong công việc. Strassmann nói: 'Chúng tôi đã làm cuộc chuyển giao quyền lực'.

    Xử lí dữ liệu giờ đây không chỉ đơn thuần là kế toán. Feld cho biết: 'các bộ phận chức năng bắt đầu nhận ra rằng họ có thể cải thiện sức sản xuất dựa vào công nghệ'. CNTT đã giúp rất nhiều cho giám đốc kinh doanh nên được đổi tên thành MIS (management information system) - hệ thống thông tin quản lí.

    Chẳng mấy chốc bức tranh thông tin như là một đống dữ liệu bề bộn. Cùng lúc đó xuất hiện một thế hệ các nhà lãnh đạo CNTT mới có khả năng tích hợp các hệ thống, họ giành được thế lực nhờ thiết lập và điều khiển được mạng máy tính maiframe với các đầu cuối chỉ có màn hình và bàn phím. Strassmann nhớ lại: 'Chúng giúp mở rộng ảnh hưởng của CNTT vào mọi công việc'.

    Khả năng phát triển của công nghệ đã củng cố địa vị của một số giám đốc hệ thống thông tin quản lí.

    Tuy nhiên nhu cầu tính toán ngày càng lớn không thể đáp ứng nổi và các bộ phận chức năng đã thúc đẩy CNTT tiếp tục phát triển. Feld nhận định: 'Từ giữa những năm 70 đến đầu những năm 90, mọi người đều làm việc theo từng bộ phận chức năng'. Kết quả là nhiều bộ phận chức năng có CIO điều hành riêng, và CIO trung tâm phải rất vất vả để thiết lập và duy trì việc quản lí các CIO bộ phận.

     

    Thập niên 80 - đầy biến động và hỗn độn

    Máy tính cá nhân xuất hiện và mọi người đều làm việc với chúng. Qua một đêm, năng lực tính toán khổng lồ của nhiều công ty được chuyển từ máy mainframe trung tâm sang những PC nhỏ gọn nằm rải rác. Strassmann cho rằng 'thách thức lúc này là ổn định lại trật tự.'


    Charlie Feld,chủ tịch

    tập đoàn The Feld

    Giữa tình hình đó, các nhà điều hành nhận ra sức mạnh tiềm năng trong tay những người kinh doanh chính là công nghệ và họ cậy đến các giải pháp của CNTT để giải quyết những vấn đề trong công việc. Ví dụ việc buôn bán xe hơi của Nhật đã đánh bại các nhà sản xuất xe hơi Mỹ, câu trả lời là Nhật đã cải tổ quá trình kinh doanh với ứng dụng CNTT.

    Trước những mong mỏi lớn lao như thế, vai trò của nhà lãnh đạo CNTT thay đổi một cách sâu sắc. Họ trở thành 'vị cứu tinh' chứ không còn là chuyên viên nữa. CIO - giám đốc CNTT, một khái niệm mới, đã trở thành người lãnh đạo có địa vị cao và quan trọng.

    Khi làm công việc CIO lần đầu tiên, Ralph Szygenda phụ trách hệ thống bảo vệ tại Texas Instruments (TI) Inc.: 'Tôi khác xa so với một CIO trước đây. Tôi phải điều hành môi trường kinh doanh tại TI. Người ta cần một người biết công nghệ nhưng cũng phải am hiểu môi trường kinh doanh'.

    Với vai trò này, CIO đã tạo ra những thay đổi mà ngày nay vẫn đang được nghiên cứu trong các trường dạy về kinh doanh. Ví dụ tại công ty Frito-Lay, Feld đã tạo lập một hệ thống quản lí bán hàng di động, gây nên cuộc cách mạng cho ngành công nghiệp thực phẩm. Và cũng như ở FedEx, hệ thống theo dõi kiện hàng của Ponder đã chứng tỏ tầm quan trọng của thông tin về vị trí của kiện hàng trên đường vận chuyển.

    Nhưng ở nhiều nơi, xu hướng thiên về kinh doanh lại bị đẩy đi quá xa. Feld nhận xét: 'Họ đã coi nhẹ kĩ thuật và thu nhận nhiều người không hiểu biết về kĩ thuật nhưng có khả năng lãnh đạo và nhạy bén về kinh doanh. Nhiều công ty gặp phải rắc rối vì CIO đã đưa ra những lựa chọn sai lầm do thiếu hiểu biết về công nghệ và chạy theo mốt'. Trong khi đó, sự phân quyền CNTT khiến nhiều công ty phải vất vả vì khó quản lí, thông tin phân tán và không chính xác.

     

    Thập niên 90 - phát huy sức mạnh

    Vào những năm 90, nhiều công ty nhận ra rằng công nghệ có thể đem lại lợi nhuận, do đó địa vị của CIO trở nên rất quan trọng, nhưng sự giằng co giữa tập trung và phân quyền vẫn tiếp diễn. Mặc dù mainframe vẫn còn được sử dụng khá nhiều, nhưng bước chân vững chắc của PC đã đem tới kỉ nguyên của công nghệ client/server.

    Do kiến trúc client/ server hướng đến người dùng cuối nên việc đầu tư vào môi trường làm việc cộng tác trong CNTT tăng vọt, củng cố thêm vai trò CIO như là nhà hoạch định, kiến trúc và quản lí ngân quĩ.

    Szygenda nhận xét: 'CIO đã từng là một nhà kinh doanh không hiểu biết về công nghệ. Điều này dẫn đến thất bại vì các công ty công nghệ đã lấn lướt họ và các dự án gặp rắc rối. Vì thế họ trở lại thành thành viên trong đội CEO/CFO/CIO (CEO - Chief Executive Officer - Giám đốc điều hành) với khả năng công nghệ là đương nhiên và tham gia vào công việc kinh doanh'.


    Ron Ponder, CIO của WellPoint Health Networks

    Gần cuối thập niên 90, các doanh nghiệp nhận ra giá trị của internet. Lại một lần nữa, mặc dù ban đầu internet chỉ mang tính cục bộ và bị phân tán, nhưng CIO mau chóng trở thành mắt xích quan trọng trong toàn công ty. Đến cuối thập kỉ, đã có nhiều CIO toàn cầu. 'Đó là người quản lí các CIO chi nhánh, ổn định trật tự, tập trung vào các kế hoạch chiến lược, các đối thủ cạnh tranh và đối tác...', Ponder nhận định. Ông là CIO của AT&T trong những năm 90. Trong thập niên này, Szygenda cũng là CIO ở General Motors.

     

    Sau năm 2000 - thiên niên kỉ mới

    Ngoài những khả năng về kĩ thuật, CIO ngày nay khác xa với nhà lãnh đạo CNTT thời kỳ đầu. Giám đốc xử lí dữ liệu vào những năm 60 là người hỗ trợ cho công việc, trong khi CIO ngày nay là một nhà điều hành cao cấp. Quan điểm về CNTT ở những năm 60 là nội bộ, CIO ngày nay có tầm nhìn toàn cầu về kinh doanh. Giám đốc xử lí dữ liệu là chuyên viên máy tính giữa những nhà lãnh đạo, còn CIO ngày nay có vai trò ngang tầm với các nhà lãnh đạo kinh doanh.

    Qua quá trình phát triển này, có một hằng số ẩn sau sự thành công và thất bại: 'Công nghệ chưa bao giờ phong phú như vậy và chất lượng của người làm CNTT cũng chưa bao giờ tốt như vậy. Vậy tại sao một số công ty CNTT xây dựng được những hệ thốngẤch mạng hóa' trong khi các công ty khác chỉ tạo nên một mớ hổ lốn? Đó chính là khả năng lãnh đạo'.

    Lê Duy

    Computerworld 30/09/2002

     

     

    ID: B0301_24