• Thứ Ba, 06/04/2004 07:30 (GMT+7)

    Thí nghiệm đào tạo CNTT bằng tiếng Anh ở ĐH Cần Thơ: Nổ lực chuẩn bị và đổi mới tư duy

    Gần đây, dư luận quan tâm đến sự kiện 7 trường ĐH được chọn thí điểm dạy tin học bằng tiếng Anh. Nhiều người cho rằng đó là hướng đi đúng, cũng có người lo hiện tượng thí điểm giữa chừng rồi bỏ lửng thường xảy ra trong giáo dục nước nhà sẽ tái diễn... Đại Học Cần Thơ sẽ thực hiện nhiệm vụ này ra sao?

    Gần đây, dư luận quan tâm đến sự kiện 7 trường ĐH được chọn thí điểm dạy tin học bằng tiếng Anh. Nhiều người cho rằng đó là hướng đi đúng, cũng có người lo hiện tượng thí điểm giữa chừng rồi bỏ lửng thường xảy ra trong giáo dục nước nhà sẽ tái diễn... Đại Học Cần Thơ sẽ thực hiện nhiệm vụ này ra sao?


    TS Đỗ Văn Xe - Phó hiệu trưởng ĐH Cần Thơ

    Hạ tầng đã được chuẩn bị
    Người có nhiều công sức gây dựng đội ngũ và kiến tạo hạ tầng CNTT ở ĐH Cần Thơ là Phó hiệu trưởng, Ts. Đỗ Văn Xê. Năm 1995, một số cán bộ chủ chốt về tin học của trường đã được đi học về quản trị mạng, Internet, hệ điều hành Unix tại Hà Lan, làm nhân tố thiết lập, sử dụng và tiếp tục triển khai hệ thống CNTT cho trường.
    Đến nay, ĐH Cần Thơ đã có mạng nội bộ tại cả ba khu (khu I: đường Ba Mươi Tháng Tư, khu II: đường Ba Tháng Hai, khu III: đường Lý Tự Trọng), Internet leased lines 512 Kbps (khu II) và 128 Kbps (khu III). Một mạng Campus theo hình thức không dây đang được trường thí điểm thông qua 2 ăngten parabol, thiết bị đều của hãng Cisco.
    Số máy tính nối mạng trong trường là 1.200, trong đó 450 máy truy cập được Internet. Trung bình, mỗi cán bộ được truy cập Internet 3 giờ/tuần, 100% cán bộ có email. Có 45 máy cho sinh viên dùng internet, trung bình mỗi sinh viên truy cập 8 phút/tuần. Mục tiêu trường đặt ra đến 2006 là 100% cán bộ và sinh viên được dùng Internet, trong đó cán bộ truy cập 8 giờ/tuần và sinh viên 2 giờ/tuần.

    Tư duy và cách làm mới trong đào tạo


    ThS.trưởng khoa CNTT Lương Văn Sơn (phải) và đỗ Thanh nghị, giảng viên trẻ khoa CNTT sắp trở thành tiến sĩ

    Khoa CNTT ĐH Cần Thơ là 1 trong những nơi được Bộ GD-ĐT chọn thí điểm dạy CNTT bằng tiếng Anh. Tìm gặp ThS. trưởng khoa CNTT Lương Văn Sơn, chúng tôi nghĩ rằng sẽ được nghe ông đề cập đến những khó khăn trong chuẩn bị giáo án tiếng Anh, đào tạo giáo viên và rèn cho sinh viên CNTT thói quen học bằng tiếng Anh. Song chúng tôi hoàn toàn bất ngờ bởi vị trưởng khoa già dặn về tuổi đời và tuổi nghề này cho biết: khoa đã âm thầm chuẩn bị 'tư tưởng' và cả giáo trình dạy CNTT bằng tiếng Anh từ hai năm nay rồi, chỉ đợi Bộ cho phép là bắt tay thực hiện ngay từ đầu năm học 2004-2005.

    Thời gian gần đây, dù dạy bằng tiếng Việt song khoa đã có giáo trình tiếng Anh và yêu cầu sinh viên sử dụng. Giáo trình tiếng Việt vẫn có nhưng chỉ để tham khảo và... để hợp lệ theo luật giáo dục. Theo nhận định của ông, học theo chương trình chung của Bộ từ trước đến nay, tiếng Anh chuyên ngành của sinh viên CNTT rất yếu. Bên cạnh tiếng Anh, ông cũng đang đề xuất ban giám hiệu thay đổi thứ tự trong chương trình đào tạo. Với khoa CNTT, ông lập luận: hai năm đầu, sinh viên CNTT không được học chuyên ngành  mà chỉ học triết, xã hội nhân văn... nên rất dễ nản; đến hai năm cuối, vừa học xong cơ bản chuyên ngành đã thấy... sắp tốt nghiệp. Theo ông, nên đưa kiến thức CNTT vào 3 năm học đầu của sinh viên, tăng cường đề án nghiên cứu khoa học cho sinh viên các năm cuối. Các môn khoa học xã hội cũng nên đưa vào năm cuối.  Như vậy khi ra trường sinh viên đã có kinh nghiệm nghiên cứu, vững nghề lại vẫn nhớ kiến thức xã hội. Còn phần thực hành và lý thuyết nên học so le nhau, không dạy lý thuyết suông mà ra những đề án nhỏ buộc sinh viên tự giải quyết, đến cuối học kỳ nghiệm thu. Sinh viên sẽ có thẻ thực tập tại phòng máy của trường, không cố định thời gian để thuận tiện tự học, tự nghiên cứu.

    Hạn chế lớn nhất của khoa là lực lượng giảng viên mỏng, không đủ thời gian nghiên cứu, do đó tính đến tháng 4/2004 khoa chỉ có được hai tiến sĩ đầu tiên. Nhận thức được tầm quan trọng của đội ngũ kế thừa, từ khi lên làm trưởng khoa, Th.S Sơn đã đẩy mạnh việc đưa cán bộ đi đào tạo, luôn luôn chiếm 30-40% lực lượng. Từ năm 2005 trở đi, nhiều tiến sĩ đang học ở Pháp, Bỉ, Canada, Hà Lan... sẽ tốt nghiệp, về trường tiếp nối công tác đào tạo.

    Năm 2003 khoa có 148 cán bộ, trong đó đứng lớp 47 người, gửi đi đào tạo ở nước ngoài 19 người. Khoa có ba bộ môn: viễn thông và tự động hóa, hệ thống máy tính và truyền thông, hệ thống thông tin và toán ứng dụng. Lượng sinh viên tăng dần theo mỗi năm, hiện đầu vào gần 200 sinh viên tin học và 100 sinh viên điện tử/năm.
    Những gì quan sát được ở ĐH Cần Thơ cho chúng tôi cảm giác có thể yên tâm về nhiệm vụ thí điểm dạy CNTT bằng tiếng Anh. Nhưng dư luận còn chờ đợi một quyết tâm lớn khác của cả Bộ và trường trong đào tạo CNTT bằng thứ 2 cho các chuyên ngành Nông- Lâm- Ngư Nghiệp …, một mảng ứng dụng quan trọng ở ĐBSCL.ÿ

    Thư viện trường ĐH Cần Thơ với mục tiêu số hóa

    Một ngày, thư viện trường ĐH Cần Thơ phục vụ từ 1.500 - 2000 lượt bạn đọc và xuất từ 2.500 - 3000 đầu sách mượn/ngày. Lượng phục vụ này tương đương, thậm chí lớn hơn so với nhiều thư viện tỉnh. Trong khi đó, số đầu sách của cả thư viện là khoảng 60.000, và liên tục tăng hàng ngày.

    Trên cơ sở đó, từ tháng 10/2001 trường đã bắt đầu mua phần mềm iLib (của công ty CMC Soft), chạy trên nền Oracle để phục vụ công tác quản lý thư viện. Cho đến nay, theo bà Diệp Kim Chi, giám đốc Thư Viện ĐH Cần Thơ thì PM này đã giúp thư viện số hóa được nhiều đầu thư mục như: lưu hành, biên mục, bổ sung, tra cứu trực tuyến, kho, quản lý hệ thống, thông tin thư viện... Thời gian để phục vụ một sinh viên trước là 10 -15 phút, nay chỉ còn 3-5 phút. Sinh viên có thể tự tra cứu các đầu sách trực tuyến và đăng ký mượn thông qua một thẻ từ (lưu trữ thông tin về sinh viên và tình trạng mượn sách).

    Mới đây, tháng 5/2003 thông qua tài trợ của tổ chức RMIT (Úc), trường ĐH Cần Thơ đã trở thành đơn vị thứ 3 của cả nước triển khai dự án 'Trung tâm học liệu' với vốn đầu tư khoảng 7,4 triệu USD. Mục tiêu và bước đi của dự án, chúng tôi sẽ tiếp tục thông tin đến bạn đọc.
    TV
    Lưu Văn

    ID: B0403_20