• Thứ Hai, 19/04/2004 09:52 (GMT+7)

    Internet một năm sau Nghị Định 55: Những nỗ lực và những điều còn trăn trở

    Nghị Định 21/CP ngày 05 - 3 - 1997 của Chính phủ mở ra một thời kỳ mới cho đời sống thông tin tại Việt Nam, VN được chính thức kết nối vào Internet. Sau 4 năm Internet đi vào cuộc sống, để đáp ứng những yêu cầu phát triển rất nhanh và phong phú của thực tiễn, Ngày 23/8/2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 55/2001/NĐ-CP về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet ở nước ta.

    Đúng một năm trôi qua, rất nhiều đổi thay tích cực và lẽ dĩ nhiên cũng còn rất nhiều yêu cầu phải tiếp tục phấn đấu.

    Quyết tâm chiến lược của nhà nước

    Chưa có giai đoạn lịch sử nào chúng ta được thấy những văn bản nền tảng, cực kỳ quan trọng chỉ đạo chiến lược và những cơ động chiến thuật trong phát triển Viễn Thông- Internet như trong một năm qua.

    1. Hai tháng sau Nghị Định 55, bằng Quyết định số 158/2001/QĐ-TTg ngày 18 tháng 10 năm 2001, Thủ tướng Chính phủ đã Phê duyệt Chiến lược phát triển Bưu chính-Viễn thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020. Chính Phủ khẳng định quan điểm "phát huy mọi nguồn lực của đất nước, tạo điều kiện cho tất cả các thành phần kinh tế tham gia phát triển bưu chính, viễn thông", đề ra những mục tiêu to lớn:

     a) Xây dựng và phát triển cơ sở hạ  tầng thông tin quốc gia có công nghệ hiện đại ngang tầm các nước tiên tiến trong khu vực, có độ bao phủ rộng khắp trên cả nước với thông lượng lớn, tốc độ và chất lượng cao, hoạt động hiệu quả, tạo điều kiện để toàn xã hội cùng khai thác, chia sẻ thông tin trên nền xa lộ thông tin quốc gia đã xây dựng; làm nền tảng cho việc ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước . 

      b) Cung cấp cho xã hội, người tiêu dùng các dịch vụ bưu chính, viễn thông hiện đại, đa dạng, phong phú với giá cả thấp hơn hoặc tương đương mức bình quân của các nước trong khu vực; đáp ứng mọi nhu cầu thông tin phục vụ kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng. Thực hiện phổ cập các dịch vụ bưu chính, viễn thông, tin học tới tất cả các vùng, miền trong cả nước với chất lượng phục vụ ngày càng cao. Đến năm 2010, số máy điện thoại, số người sử dụng Internet trên 100 dân đạt mức trung bình trong khu vực. 
    …..

    2. Tiếp theo, ngày 08 tháng 02 năm 2002 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 33/2002/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch phát triển Internet Việt Nam giai đoạn 2001-2005.

    Quyết định 33 đã nêu rõ những mục tiêu và các chỉ tiêu phát triển Internet tại nước ta tới 2005:

    Mục tiêu tổng quát

    - Đẩy nhanh việc phổ cập Internet trong mọi hoạt động của nền kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng với chất lượng tốt, giá cả thấp hơn hoặc tương đương các nước trong khu vực.

    - Phát triển hạ tầng Internet trở thành môi trường ứng dụng thuận lợi các loại hình dịch vụ điện tử về thương mại, hành chính, báo chí, bưu chính, viễn thông, tài chính, ngân hàng, giáo dục đào tạo từ xa, y tế qua mạng... phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

    - Tạo lập môi trường cạnh tranh với nhiều doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối (IXP), dịch vụ truy nhập (ISP), dịch vụ ứng dụng (OSP).

    Các chỉ tiêu phát triển cụ thể

    a) Về phổ cập Internet:

    Năm 2002 - 2003: tất cả các viện nghiên cứu, trường đại học, cao đẳng, trung học dạy nghề được kết nối Internet;

    Đến năm 2005: đạt mật độ bình quân1,3 -1,5 thuê bao/100 dân, tỷ lệ số dân sử dụng Internet là 4 -5 %, tiến tới đạt tỷ lệ này ở mức trung bình khu vực vào năm 2010; khoảng 50% số trường phổ thông trung học, 100% số bệnh viện trung ương và trên 50% số bệnh viện tỉnh được kết nối Internet; tất cả các Bộ, ngành, cơ quan hành chính nhà nước, chính quyền cấp tỉnh và huyện được kết nối Internet và mạng diện rộng của Chính phủ; hầu hết cán bộ, công chức được sử dụng Internet để  phục vụ công tác chuyên môn và hành chính công điện tử.

    Đảm bảo các dịch vụ trong môi trường Internet cho phát triển thương mại điện tử, dịch vụ ngân hàng, tài chính, hải quan...

    b) Mở rộng thị trường có cạnh tranh bình đẳng giữa các nhà cung cấp dịch vụ Internet: đến năm 2005 có từ 3 đến 5 IXP, từ 30 đến 40 ISP và nhiều OSP được cấp giấy phép hoạt động;

    3.  Ngày 25 tháng 5 năm 2002, thay mặt Uỷ ban thường vụ quốc hội Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Văn An đã ký PHÁP LÊNH BƯU CHÍNH, VIỄN THÔNG. Pháp lệnh sẽ có hiệu lực từ ngày 01 tháng 10 năm 2002. Những vấn đề hết sức nền tảng về bưu chính-viễn thông, trong đó có Internet đã được xác lập trong pháp luật Việt Nam. Pháp lệnh khẳng định "Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông là doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế". Pháp lệnh cũng làm rõ những khái niệm cơ bản liên quan đến các loại dịch vụ Internet: "Dịch vụ kết nối Internet là dịch vụ cung cấp cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet khả năng kết nối với nhau và với Internet quốc tế; Dịch vụ truy nhập Internet là dịch vụ cung cấp cho người sử dụng khả năng truy nhập Internet; Dịch vụ ứng dụng Internet trong bưu chính, viễn thông là dịch vụ sử dụng Internet để cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông cho người sử dụng."

    Thuật ngữ Internet đã chính thức đi vào pháp luật Việt Nam, như một thực tiễn được Nhà Nước chăm lo phát triển và như một lực lượng góp phần to lớn phát triển đất nước. 

    Triển khai và đi vào thực tiễn

    Triển khai quyết tâm chiến lược của Nhà Nước, Tổng Cục Bưu Điện, các doanh nghiệp, và đông đảo người dùng Internet đã ra quân đồng loạt. TCBĐ đã ban hành nhiều quyết định cụ thể hoá lộ trình giảm giá Internet (cài đặt, cước sử dụng, cước thuê bao, cước thuê kênh riêng .v.v..),  tăng cường chất lượng, đa dạng hóa các thành phần kinh tế tham gia vào các dịch vụ viễn thông - Internet. Bức tranh Internet đã có những thay đổi lớn theo hướng tích cực.

    1. Băng thông phát triển

    Đến tháng 5/2002, VDC mở thêm kênh 45Mbps hướng đi Hongkong, nâng tổng dung lượng kênh internet quốc tế của Việt Nam lên 106 Mbps. Tính theo chỉ số dung lượng kênh internet/thuê bao, Việt Nam đạt con số xấp xỉ Thái Lan và nhỉnh hơn Malaysia.

    Trong thời gian qua, dung lượng internet quốc tế của Việt Nam tăng với mức độ như (BIỂU ĐỒ 1).

                          

    2.  Giá Internet giảm

    Giá internet được nghiên cứu giảm dần và tiếp tục giảm theo Quyết Định 480/2002/QĐ-TCBĐ ngày 13/6/2002 của TCBĐ. Giá ưu đãi vẫn được áp dụng cho các khu phần mềm tập trung. Từ tháng 2/2002, khung giá mới cho các IXP thuê đường kết nối internet quốc tế giảm ba lần so với khung cũ.

    3. Lộ trình từng bước xóa bỏ độc quyền

    Trước  tháng 5/2002 chỉ có 1 nhà kinh doanh dịch vụ kết nối Internet (IXP). Hiện nay thêm hai đơn vị được cấp quyền IXP là FPT và Vietel. Số các đơn vị ISP (kinh doanh dịch vụ internet) cũng tăng đáng kể, từ 5 ISP trước đây lên 12 ISP hiện nay. Với các con số này có lẽ số các nhà cung cấp dịch vụ Internet sẽ vượt chỉ tiêu đề ra như đã nêu trong Quyết Định 33 nói trên.

    4.  Triển khai các công nghệ mới
    Thử nghiệm và đưa vào sử dụng các phương thức kết nối internet tốc độ cao ISDN, ASDL.

    Những trăn trở

    1. Số thuê bao tăng trưởng ngày càng chậm!

    Theo thống kê của VNNIC, số thuê bao internet Việt Nam đến tháng 6/2002 đã tăng 30% sau một năm (so với 135.000 cùng kỳ năm 2001). Con số này tăng trưởng khá chậm so với các nước láng giềng trong khu vực. Theo China Internet Network Information Center, từ tháng 6/2001 đến tháng 6/2002 tại Trung Quốc đã tăng thêm 63%, đạt con số 45,8 triệu người dùng.

    Tạp chí Bưu Điện Việt Nam (số 16-22/8/2002), dẫn con số của Tổng Cục Bưu Điện (TCBĐ), cho biết hiện Việt Nam có khoảng 250.000 thuê bao internet. Từ đó, nếu theo cách quy đổi với trung bình mỗi thuê bao có 4 người sử dụng thì Việt Nam có khoảng một triệu người dùng internet - tính cả những người sử dụng internet trong các cơ quan, dùng chung thuê bao hoặc dùng thẻ. 

    Số lượng thuê bao từ tháng 9/2000 đến tháng 6/2002 tăng trưởng (BẢNG 1).

    Tỷ lệ tăng trưởng thuê bao internet ngày càng chậm tính theo từng quý. Nếu như ở thời điểm tháng 12/2000, số lượng thuê bao mỗi quý tăng 20% thì sang năm 2002, con số này giảm xuống còn 2,9% (quý I/2002) rồi đến 1,7% (quý II/2002). Số thuê bao của SPT thậm chí còn giảm đi. Mục tiêu đến năm 2005 sẽ có từ 1.000.000 đến 1.200.000 thuê bao, theo Chiến Lược Phát Triển Internet đến năm 2005, e chừng khó đạt nổi.

    Tốc độ tăng số thuê bao ngày càng chậm,  cùng  việc khuyến mãi liên tục của các nhà cung cấp dịch vụ internet là dấu hiệu cho thấy dịch vụ ISP thuần tuý đang chết dần, các ISP vừa ra đời không thể tồn tại nổi nếu không đa dạng hoá dịch vụ và triển khai các dịch vụ mang lại giá trị gia tăng trên mạng.

    2. Có giấy phép - Nhưng rất khó triển khai

    "Các ISP ra đời trước (VDC, FPT, Netnam, SPT) có vị thế cực kỳ thuận lợi, bởi các khách hàng tiềm năng đã thuộc về họ cả rồi" - ông Trần Ngọc Đức, giám đốc QTNet nhận xét.

    Bên cạnh thách thức đối với những "kẻ đến sau" trên thị trường, các ISP mới không thể dựa thuần tuý vào việc cung cấp dịch vụ truy nhập internet. Vì vậy, họ đều đang ráo riết chuẩn bị các chiến lược kinh doanh đặc trưng, với lợi thế riêng của mình. Đó là các dịch vụ ứng dụng gia tăng trên internet. Muốn vậy, trước hết họ phải là một nhà cung cấp dịch vụ ứng dụng internet (OSP), nghĩa là họ lại phải tiếp tục một lần nữa làm... thủ tục xin cấp phép làm OSP (mặc dù có những doanh nghiệp trong giấy phép xin đồng thời cả ISP và OSP, nhưng ban đầu họ chỉ được cấp giấy phép ISP mà thôi). Đây là nguyên nhân chính giải thích vì sao sau nửa năm được cấp phép, các ISP mới vẫn chưa thể "xung trận".

    Trước việc triển khai chậm trễ hoạt động kinh doanh của các ISP mới, một chuyên viên của Vụ Chính Sách - Tổng Cục Bưu Điện (TCBĐ) cho hay: Trong thời gian tới, TCBĐ không muốn cấp thêm giấy phép ISP nữa. "Tổng Cục không muốn cấp phép thêm để rồi các ISP đắp chăn để đó" - vị chuyên viên này nói. 

    Thực ra, trong khi chờ đợi được cấp thêm giấy phép, các ISP mới đều đang ráo riết chuẩn bị. Chẳng hạn, QTNet xin cấp phép kinh doanh dịch vụ truy nhập internet vô tuyến (wireless access) và có cả phương án cung cấp dịch vụ đào tạo trực tuyến. Việt Khang thì chuẩn bị tung ra mạng Xuyên Việt (AnyTime Online) và mua lại mạng Phương Nam trước đây. Một chuyên gia kỹ thuật của Hanoi Telecom JSC cho biết công ty đang đợi thiết bị về để chạy thử nghiệm...

    Đặc biệt, có thể xem trường hợp Techcom Vietnam chậm triển khai dự án "Làng Ảo" như một "ca điển hình".

    Giới CNTT hẳn đều biết TS Trần Thọ Nguyên (Việt kiều Pháp, giám đốc công ty Techcom Vietnam) với dự án "Làng Ảo" để xây dựng một hệ thống cơ sở hạ tầng mạng cho xuất khẩu phần mềm Việt Nam. Dự án được trình từ năm 1999. Thoạt đầu, vì đây là một "ý tưởng mới" nên chưa có một chính sách nào có thể hỗ trợ. Đến khi Nghị Định 55/CP ra đời, rồi ba tháng sau, khi Tổng Cục Bưu Điện có Thông Tư 04/TCBĐ hướng dẫn thi hành Nghị Định 55/CP, Techcom Vietnam mới có thể nộp hồ sơ xin cấp phép ISP và OSP.

    Rồi thì Techcom Vietnam cũng được cấp hai loại giấy phép ấy. Nhưng khi đàm phán kết nối đường truyền với VDC thì lại phải... tiếp tục chờ, do Bưu Điện TP.HCM nói... không có cáp!

    TS Trần Thọ Nguyên kể : "Chỉ mỗi việc kiểm tra xem có cáp hay không mà phải làm mất... ba tháng, tính tới giờ họ vẫn chưa kéo cáp được. Công ty chúng tôi cứ phải chuẩn bị sẵn mọi chứ để chờ lúc triển khai, và như vậy là lãng phí kinh khủng: mỗi tháng Techcom phải mất 40.000 USD cho các chi phí hành chính, vậy mà tính đến nay đã bảy  tháng ngồi im rồi!".

    May cho Techcom là họ vừa liên hệ với công ty Điện Tử Viễn Thông Quân Đội (Vietel) và chỉ trong... mười ngày là cáp đã được kéo tận nơi!

    Cũng là chuyện đường cáp cho các IXP, ISP,  ông Trương Đình Anh, giám đốc Internet FPT, cho biết: "Chúng tôi chỉ xin thuê một đường cáp nội hạt. Đầu tiên là phải "xin" Bưu Điện Hà Nội, rồi đến bộ phận quản lý viễn thông của Bưu Điện Hà Nội, công ty Truyền Dẫn Cáp Bưu Điện, công ty Thi Công Công Trình Bưu Điện... Không có ai trong đó đứng ra làm đại diện nên chúng tôi phải qua sáu cửa, mất sáu tháng! May sao có thêm công ty thứ hai và tình hình đã khác: Vietel vừa kéo cho chúng tôi một đường như thế chỉ trong mười ngày!".

    Chuyện của Internet FPT cũng chưa dừng lại ở đó. Ông Đình Anh nói: "Giả sử biết trước được thời điểm sáu tháng nữa sẽ được kết nối thì trước thời điểm ấy một tháng, doanh nghiệp mới nên nhập thiết bị. Số tiền "nằm chết" trong các thiết bị sẽ lớn đến hàng triệu USD (chưa kể chỉ cần vài tháng thì các thiết bị đã lỗi thời, giá sẽ hạ xuống vài chục %). Vì vậy, các doanh nghiệp mới đã khó khăn lại càng gặp thêm nhiều khó khăn!".

    3. Và những thủ tục rất thiếu chất CNTT!

    Trước hết, cần nói đến thời gian xin và được cấp giấy phép IXP, ISP. Theo Thông Tư 04/TCBĐ của TCBĐ, "TCBĐ tiến hành thẩm định và cấp phép hoặc từ chối cấp phép trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ" (mục III.11). Thế nhưng cho đến nay, thời hạn này chưa bao giờ được đảm bảo. Trở lại với trường hợp Techcom Vietnam: công ty này chỉ có được giấy phép ISP vào... tháng 1/2002, rồi đến tháng 6 vừa rồi mới được cấp phép OSP. Hai giấy phép được coi là "đột phá" của ngành Bưu Điện là cấp phép IXP (nhà cung cấp kết nối internet) cho Vietel và FPT sau hơn... năm tháng nộp hồ sơ.

    "Hồ sơ xin cấp phép thì nhiều thủ tục, giấy tờ lắm; như giấy phép kinh doanh, quyết định thành lập doanh nghiệp, điều lệ hoạt động, lĩnh vực hoạt động, phương án kỹ thuật, kế hoạch kinh doanh khả thi trong năm năm, chất lượng dịch vụ, khung giá cước dịch vụ... Đầy đủ rồi nhưng chưa bao giờ làm hài lòng Vụ Chính Sách - TCBĐ. Bao giờ cũng có yêu cầu phải sửa giấy tờ này, phải thêm giấy tờ khác. Nhiều khi gặp mỗi người thì lại thấy hướng dẫn mỗi khác..." - giám đốc của một ISP mới tâm sự.

    Có giấy phép nhưng chưa thể kinh doanh được ngay, bởi vẫn còn thủ tục nữa dành cho các ISP mới: một đoàn kiểm tra liên ngành (gồm đại diện Bộ Công An, Bộ Văn Hoá Thông Tin, TCBĐ) sẽ đến kiểm tra hệ thống, mà nếu đáp ứng được thì ISP mới chính thức được cung cấp dịch vụ. "Nhưng chẳng có quy định nào về thời gian kiểm tra cả. Rất khó! Chúng tôi đang phải... xin được kiểm tra!" - một giám đốc ISP khác bộc bạch.

    Tiếp theo, là chuyện xin kết nối. Theo ông Trần Ngọc Đức, mạng cáp đồng mà Tổng Công Ty Bưu Chính Viễn Thông (VNPT) đang quản lý cần phải coi là tài nguyên quốc gia chứ không phải là của riêng VNPT. "Tâm lý xem hệ thống mạng hiện nay là của riêng VNPT đã dẫn tới việc VNPT độc quyền kinh doanh trên hệ thống mạng này. Chính Phủ cần tháo gỡ vướng mắc này bằng các quy định pháp luật, làm sao để các nhà cung cấp dịch vụ liên lạc viễn thông cùng khai thác trên nền tài nguyên quốc gia này" - ông Đức kiến nghị.

    Có thể kể thêm chuyện... độc quyền triển khai công nghệ mới: khi FPT có công văn gửi Ban Viễn Thông (thuộc VNPT) xin được thử nghiệm công nghệ ADSL (thuê bao số không đối xứng - giúp tăng khả năng truy cập internet lên hàng chục lần) thì không được chấp thuận với những lý do không mấy thuyết phục.

    Một năm sau Nghị Định 55, khái niệm internet đã chính thức trở thành một khái niệm pháp luật được Nhà Nước chăm lo phát triển, rào chắn độc quyền đã được khai thông nhiều chỗ. Tuy nhiên, cũng còn rất nhiều điều phải khẩn trương và quyết tâm giải quyết. Những khảo sát quốc tế vẫn đánh giá tình trạng internet của Việt Nam còn nhiều bất cập. Mỗi người Việt Nam cần ngẫm nghĩ về nhiệm vụ và vô cùng quan trọng và khó khăn đã nêu trong chỉ thị 58 của Bộ Chính Trị: "...CNTT nước ta đến năm 2005 (phải) đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và trở thành phương tiện chủ lực để đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách số với các nước đi trước".

     

     

    ID: B0209_24