• Thứ Tư, 28/04/2004 08:51 (GMT+7)

    Công nghiệp CNTT Quốc tế đã chín muồi?

    Sự suy thoái của công nghiệp CNTT (CNpCNTT) trong 2 năm qua là một suy thoái theo chu kỳ hay là cái gì khác? Theo Larry Ellison, Chủ Tịch Oracle, hãng phần mềm số 2 trên thế giới thì đây không phải là chu kỳ mà là biểu hiện sự chín muồi của ngành CNpCNTT, điều mà người ta dự đoán sẽ đến vào khoảng các năm 20 của thế kỷ 21 này. Nó đã đến sớm hơn. Nhưng điều đó không đặt dấu chấm hết cho các nước đi sau xây dựng CNpCNTT của mình. Các cơ hội vẫn còn đó, chỉ có điều ít lựa chọn hơn và khó nắm bắt hơn. 

    Sự chín muồi của ngành CNpCNTT

    Sau thời kỳ phát triển như vũ bão trong khoảng 2 thập kỷ 80 & 90, CNTT quốc tế đã sa sút nghiêm trọng bắt đầu từ đầu năm 2000. Có thể nêu một vài biểu hiện điển hình như:

    Các công ty tổ chức các loại hình dịch vụ trên nền tảng Internet (thường gọi là các công ty DOTCOM) giải thể như một đại dịch: Năm 2000 có 223 công ty giải thể, năm 2001 là 521, bốn tháng đầu năm nay là 66. Những công ty này phát triển các dịch vụ gia tăng trên nền Viễn Thông-Internet và các sản phẩm phần mềm nền. Sự sụp đổ gần như toàn mặt trận giá trị gia tăng kéo theo sự suy giảm nghiêm trọng của công nghiệp máy tính-viễn thông. Tình trạng này nặng nề nhất là vào các tháng giữa năm 2001. Căn cứ giá cổ phiếu của các công ty CNpCNTT hàng đầu trong 4 khu vực CNpCNTT và tạm coi mức tháng 1/2001 là 100 thì ta có số liệu sau:

    Năm nay 2002, những công ty phần cứng lớn đang bị suy giảm. Vào tháng 7/2002 giá trị cổ phiếu của IBM còn khoảng 50, Intel 60, Texas Instruments 70, Sun 50, HP 70, chỉ có Dell là giữ vững (so với 100 vào đầu năm).

    Khuôn mặt phần mềm lớn thứ 2 thế giới là Larry Ellison có lẽ là người bi quan. Trong tình trạng giá cổ phiếu Oracle của ông vào tháng 7 cũng chỉ còn cỡ 50-60% so với đầu năm, ông đã nói:

    "Đây là sự suy thoái nghiêm trọng, tồi tệ nhất trong lịch sử CNpCNTT của Mỹ. Thung lũng Silicon sẽ không bao giờ được như xưa nữa"  (Financial Times 30/9/2002).

    Không phải ai cũng bi quan như vậy và  không phải công ty nào cũng sút giảm, và cũng lại càng không phải chỉ có nhóm người cực giỏi đông tới 110.000 tính từ đầu năm 2000 tới nay đã mất việc ở thung lũng Silicon. Các nghiên cứu quốc tế vẫn chỉ ra được những người lạc quan tin rằng sự suy thoái chỉ là chu kỳ, chỉ ra được những tên tuổi đang lên, những công ty mới ở thung lũng Silicon.

    Tuy nhiên, có lẽ nhận định của Larry Ellison về nguyên nhân của sự suy thoái này đáng để ta suy ngẫm. Ông cho rằng:

    "Những ai tin rằng đây chỉ là sự suy thoái theo chu kỳ thì quả là... "khùng" (mad). Họ không nhìn thấy cái gì đang xảy ra trước mắt họ. Đã có một niềm tin ngây thơ là mọi việc sẽ phát triển trở lại. Điều đó thật vô nghĩa. Công nghiệp của chúng ta (CNpCNTT) đã chín, cái gì đã chín thì tốc độ đổi mới của nó chậm lại" (Financial Times 30/9/2002).

    Quan điểm của Larry là một triết lý để từ đó xác định chỗ đứng, cách đi của chúng ta.

    Để dễ hình dung, ta có thể lấy công nghiệp ô tô như một thí dụ. Ra đời trên 100 năm và đạt đến cái độ chín theo cách Larry nói về CNpCNTT vào khoảng những năm 50-60 của thế kỷ 20. công nghiệp ô tô đã chín ở Mỹ, Đức, Pháp, Ý, Nhật v.v... Tuy nhiên nó vẫn phát triển. Các nước có ngành công nghiệp này vẫn không ngừng đổi mới và mở rộng sản xuất. Các nước chưa có ngành công nghiệp này thì bắt tay vào xây dựng nó, và một số nước đã thành công lớn như Hàn Quốc.

    Những đặc điểm rất quan trọng của một ngành công nghiệp phát triển như vũ bão và bước vào giai đoạn chín muồi là:

    •  Chi phí cho R&D (nghiên cứu & phát triển) tại các trung tâm phát triển của ngành này sẽ giảm đi.

    •  Thị trường sôi động nhất sẽ giảm nhiệt độ và diễn ra sự chuyển động của thị trường sang các vùng kém phát triển.

    •  Chuyển dần các cơ sở sản xuất sang các nước chậm phát triển hơn để gần với thị trường đang lên và tận dụng ưu thế giá thành sản xuất thấp.

    Diễn biến CNTT quốc tế trong những năm qua đã thể hiện rất đầy đủ 3 đặc điểm quan trọng trên. Có thể trích dẫn nhiều công trình khảo cứu minh chứng cho tình hình này.

    Chiến lược của chúng ta

    Nếu bắt đầu xây dựng công nghiệp ô tô vào những năm 50-60 của thế kỷ trước, khi ngành này bước vào giai đoạn chín sau gần một thế kỷ phát triển thì chắc chắn chúng ta  sẽ có chiến lược rất khác so với việc bắt đầu vào thời điểm hiện nay. Với CNpCNTT đây là thời điểm tương tự công nghiệp ô tô vào giữa thế kỷ trước. Vào khoảng những năm 70 của thế kỷ trước, Hàn Quốc bắt tay xây dựng ngành công nghiệp ô tô. Mười năm đầu là do Nhật đầu tư. Mười năm tiếp theo bắt đầu có các nhà máy sản xuất ô tô của người Hàn, chủ yếu sản xuất theo các thiết kế của Nhật. Tới những năm 90 thì người Hàn Quốc đã làm được ô tô từ A đến Z.

    Trở lại với CNpCNTT. Khi xây dựng những kế hoạch của quốc gia, chúng ta xuất phát từ nhận định là ngành CNpCNTT vẫn đang trong thời kỳ tăng trưởng nhanh của một ngành non trẻ. Cần nhắc lại là ngành công nghiệp chín muồi không có nghĩa là không tăng trưởng. Ngành công nghiệp ô tô đã "chín nẫu" nhưng vẫn tăng đều đều, như kiểu tăng dân số, chứ không phải tăng đột biến. Hơn nữa, một ngành ô tô chín ở Mỹ, Nhật nhưng ở Hàn Quốc thì là rất mới vào những năm 70, 80. Những thống kê và dự báo mới đây, chẳng hạn của Gartner Dataquest (SGGP ngày 15/10/2002) cho ta thấy khả năng nhích lên của thị trường CNTT. 

    Nhận định CNpCNTT đang "xanh" sẽ dẫn đến việc cho rằng có thể tái lập con đường mà Ấn Độ đã đi trong thập kỷ 70 - 80, hoặc như Trung Quốc đã đi từ nửa cuối thập kỷ 80 và thập kỷ 90, với hy vọng đón xung tiếp theo. Ấn Độ đã may mắn chớp được thời cơ vào những năm 70, 80 của thế kỷ trước. Trong vòng khoảng 20-30 năm, hàng triệu thanh niên Ấn Độ đã kéo nhau sang Mỹ tìm đất sống trong CNpCNTT. Nguồn nhân lực này quay trở lại làm nên CNpPM nổi tiếng của Ấn Độ từ những năm 90. Trung Quốc đã muốn làm nhanh theo bước Ấn Độ khi họ chủ trương mở rộng, tạo điều kiện để hàng trăm ngàn thanh niên sang du học tại Mỹ mà phần đông là CNTT. Số này đã khởi đầu giống thanh niên Ấn Độ trước đó 20 năm nhưng có bước tiếp theo cơ bản khác Ấn Độ, họ trở về nước là chính chứ không ở lại và cũng không có nhiều chỗ làm lắm mà ở lại. Vào cuối thập niên 90, khi có số lớn sinh viên CNTT Trung Quốc học xong thì lực hút vào ngành này tại Mỹ không còn quá mạnh như những năm 80 và đầu thập kỷ 90. Họ trở về nước và may mắn lại đến với người Trung Quốc là đón được cái đặc điểm thứ 3 của sự chín muồi của CNpCNTT - chính là outsourcing trong CNpPM. Trong một số trường hợp, Ấn  Độ và Trung Quốc do có lực lượng ưu tú được đào tạo cơ bản đông đúc nên họ còn đón được cả đặc điểm thứ nhất của tính "chín" của ngành CNpCNTT. Đó là sự cắt giảm chi phí cho R&D. Thật ra, dù chín thì R&D vẫn cứ phải thực hiện. Nếu không thì sản phẩm sẽ mất sức cạnh tranh và mất dần thị trường. Ngành ô tô "chín nẫu" từ 50 năm trước vẫn cứ phải làm R&D mạnh. Một số trung tâm R&D của các hãng CNpCNTT lớn đã được thiết lập ở Ấn Độ, Trung Quốc.

    Còn với chúng ta? Chính tác giả những dòng này khi đảm trách xây dựng kế hoạch phát triển CNTT cho TP. HCM cũng nghĩ rằng phải đào tạo thật tốt và xuất khẩu hàng ngàn thanh niên ưu tú qua làm việc tại các trung tâm phát triển CNpCNTT quốc tế, trong đó chủ yếu là Mỹ. Khoảng 5-7 năm sau, lực lượng này sẽ làm nòng cốt phát triển như ở Ấn Độ, Trung Quốc và một số quốc gia khác. Đào tạo tốt (cả ngoài nước và trong nước) thì không bao giờ là muộn, không bao giờ là thừa. Đưa ra nước ngoài làm việc thì bao giờ cũng có thể. Nhưng sẽ không còn là hướng chiến lược nữa.

    Sự chín muồi của CNpCNTT quốc tế đặt chúng ta trước một vài lựa chọn bị giới hạn hơn thời kỳ "xanh" của CNpCNTT. Giới hạn về hướng lựa chọn và về thời gian chuẩn bị để nắm bắt thời cơ.

    Trước hết, dù chiến lược nào thì CNpCNTT cả phần mềm và phần cứng đều phải chiếm được thị phần trong nước một cách hợp lý. Tuy nhiên tham gia thị trường quốc tế vẫn phải là phần lớn hơn nếu quả thực ta muốn xây dựng một ngành CNpCNTT mạnh. Để làm được điều này không có con đường đi chậm như Ấn Độ (20 năm), như Trung Quốc (10 năm). Chúng ta phải đi rất nhanh để kịp đón các đại dịch chuyển CNpCNTT từ các trung tâm của ngành này. Nếu chúng ta làm giỏi như Hàn Quốc đã làm với công nghiệp ô tô thì chúng ta có thể có thị trường ở các quốc gia đi sau cả về phần cứng và phần mềm. Số này không phải ít. Hiện tượng cũng tương tự như ta trở thành thị trường cho công nghiệp ô tô Hàn Quốc. Làm điều này không phải dễ. Bao nhiêu quốc gia bắt đầu làm ô tô từ những năm 70, 80 nhưng cũng chỉ vài nước thật sự thành công. Để làm CNpCNT như làm ô tô ở Hàn Quốc cách đây 30 năm thì phải nói tất cả các quốc gia đi sau đều đang có thời cơ lớn. Sự chín muồi của CNpCNTT ở các quốc gia phát triển sẽ tạo ra một thời cơ cho các quốc gia đi sau. CNpCNTT đã đến lúc cần chuyển giao sang các quốc gia đi sau theo quy mô lớn.  Nhưng thời cơ này còn khó nắm bắt hơn cả thời cơ trong công nghiệp ô tô nếu chúng ta tiếp tục phân tích theo cách nhìn của giai đoạn "xanh" trong phát triển CNpCNTT. Có rất nhiều vấn đề cần xem xét lại. Tuy nhiên có lẽ một trong những vấn đề cơ bản là: Công Nghiệp Phần Cứng (CNpPC) hay CNpPM?

    Trong 2 hướng chính là CNpPC và CNpPM thì cái nào dễ chớp thời cơ hơn?

    Đây là câu hỏi lớn mà câu trả lời trước đây đã được xác định là CNpPM.

    Có thể đó là câu trả lời chưa chính xác vì nhận định thời thế chưa đúng.

    CNpPC cần cái gì là chính ? đó là:

    •  Năng lực tổ chức hậu cần (đây là đề tài lớn sẽ bàn đến trong dịp khác).

    •  Hạ tầng điện, nước, viễn thông, nhà xưởng, đường giao thông...

    •  Nhân lực lao động rẻ và phổ thông (một nhà máy sản xuất chip siêu đẳng cần khoảng 1000 công nhân được đào tạo thì cũng chỉ cần khoảng vài chục kỹ sư).

    •  Thị trường tại chỗ và thị trường lân cận tiềm năng.

    CNpPM cần cái gì là chính? đó là:

    Nhân lực lớn lao động trí tuệ được đào tạo chu đáo về công nghệ, ngoại ngữ và năng lực làm việc tập thể.

    Ấn Độ có được lợi thế cho CNpPM nhờ hàng triệu thanh niên học trong các đại học ở Mỹ và tôi rèn trong CNpPM 20-30 năm qua. Trung Quốc thì thiếu phần tôi rèn trong thực tiễn, nhưng họ có hàng trăm ngàn người đã được học chu đáo trong các đại học hàng đầu thế giới. Đầu tư nhân lực của các nước đó là rất lớn nhưng trường kỳ, ít một. Việt Nam không có các lợi thế đó. Tạo điều kiện để đón sự dịch chuyển CNpPC sẽ có phần dễ hơn so với đón sự dịch chuyển của CNpPM. Cũng cần biết rằng những phần sản xuất không khó lắm (màn hình, bo mạch...) thì sự dịch chuyển đã diễn ra hàng chục năm rồi. Bây giờ là đến những gì tinh vi hơn, khó nuốt hơn. Chúng ta nói về xu thế chiến lược chứ không phải là sẽ không có gia công phần mềm, xuất khẩu nhân lực phần mềm, thậm chí có cả phần mềm xuất khẩu.

    CNpCNTT đạt đến độ chín muồi! Điều này chúng ta đã nói đến với dự đoán sẽ diễn ra khoảng 20 năm sau. Nhưng có lẽ nó đến sớm hơn. Tới đây sẽ là thế kỷ của công nghệ sinh học. Tuy nhiên không vì thế mà thất vọng cho rằng đã hết thời CNpCNTT. Ngay cả công nghiệp ô tô cũng chưa hết cơ hội. Chỉ có là khó hơn và ít hơn! Để nắm bắt cơ hội cho CNpPM chỉ cần một điều kiện hết sức cơ bản như trên trình bày. Nhưng tạo ra điều kiện này chỉ bằng sức ta thì thật khó. Làm như Trung Quốc đầu tư không phải là ít. Muốn có 100.000 người được học ở các đại học danh tiếng ta phải đầu tư khoảng 10 tỷ USD. Làm như Ấn Độ thì đã mất thời cơ. Để nắm bắt cơ hội cho CNpPC cần có 4 điều kiện cơ bản như trên đã nêu. Chuẩn bị các điều kiện đó có thể không khó hơn nếu không nói là ít nhiều thuận lợi hơn so với chỉ một điều kiện cho CNpPM.

    Có thể ngay ở Mỹ cũng có người thủ lợi trong sự suy thoái của CNpCNTT, đánh dấu sự mở đầu của giai đoạn chín muồi của ngành này. Rick Rashid, người đứng đầu hoạt động nghiên cứu của Microsoft vừa khai trương một phòng nghiên cứu tại Silicon Valley nói:

    "Hiện nay chúng tôi có thể thuê những người giỏi. Các đại học vẫn còn đó và hạ tầng tri thức vẫn còn nguyên vẹn" (Financial Times 30/9/2002).

    Với cái nhìn tổng thể, sự suy thoái hiện nay và thời kỳ chín muồi của CNpCNTT dù sao vẫn tạo ra nhiều thời cơ cho các quốc gia đi sau. Tuy nhiên những thời cơ này hoàn toàn khác với thời kỳ "xanh" của CNpCNTT. Vấn đề là nỗ lực hết sức mà nắm lấy thời cơ và lựa chọn đúng cái có thể nắm.

    Nguyễn Trọng

     

     

     

    ID: B0211_16