• Thứ Tư, 28/04/2004 08:42 (GMT+7)

    Cơ hội nào cho phần mềm Việt Nam?

    Định hướng xây dựng ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam như một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước đã được Chính Phủ thông qua hơn hai năm, nhưng những kết quả đạt được thật ít ỏi. Không cần đến số liệu thống kê cũng có thể dự đoán mục tiêu 500 triệu đô la Mỹ doanh số phần mềm vào năm 2005 là không thể đạt được. Theo logic quản trị dự án thông thường nhất, khi tiến độ quá chậm như thế này người ta phải xem xét lại chiến lược hành động có thích hợp không; hoặc mục tiêu đặt ra có cao quá không; hay xa hơn nữa là định hướng có đúng không?

    ự phát triển quá chậm so với kế hoạch trong hai năm qua của phần mềm Việt Nam chưa phải là điều đáng lo ngại nhất. Người ta dễ dàng tìm ra một tá lý do để biện minh cho kết quả yếu kém tạm thời này. Nhưng điều đáng sợ hơn rất nhiều là, sau hai năm chúng ta vẫn dẫm chân tại chỗ và vẫn mù mịt như thế về những bước đi tiếp theo, nếu không nói là mịt mù hơn.

    Trước hết nói đến phần mềm xuất khẩu.

    Chúng ta đã bỏ lỡ thời cơ

    Luận điểm thuyết phục nhất khiến Việt Nam chọn định hướng chiến lược xuất khẩu phần mềm là "thị trường phần mềm thế giới tăng nhanh, vượt xa khả năng đáp ứng của các nước trên thế giới". Khi xem xét luận điểm này, chúng ta quên mất tham số thời gian, tức là tình trạng mất cân đối giữa cung và cầu này kéo dài bao lâu? Trong nền kinh tế thị trường, tình trạng này thường được khắc phục rất nhanh, trên thực tế là đã nhanh hơn sự chuẩn bị của Việt Nam trong thời gian qua. Các nước khác trên thế giới như Ấn Độ, Trung Quốc, Nga, Malaixia... đã nhanh chân lấp đầy sự thiếu hụt này. Cơ hội tốt đẹp đã đi qua. Đó là lý do quan trọng nhất khiến các hợp đồng gia công phần mềm đến Việt Nam nhỏ giọt, chủ yếu dựa trên quan hệ cá nhân của anh em Việt kiều làm việc trong lĩnh vực CNTT. Tất nhiên, sự suy thoái của ngành CNTT trên thế giới trong năm qua, đặc biệt sự suy thoái của thị trường Mỹ sau sự kiện 11-9, cũng là nguyên nhân quan trọng.

    Gía nhân công rẻ không bù được năng suất lao động thấp

    Chúng ta nói nhiều về lợi thế giá nhân công rẻ của Việt Nam. Thực tế làm phần mềm chuyên nghiệp trong hai năm qua cho thấy điều ngược lại. Hơn bất cứ ngành nào, trong phần mềm, năng suất lao động mới mang tính quyết định. Tại công ty FPT, chúng tôi có thuê một số lập trình viên người Ấn Độ. Chi phí mà chúng tôi thanh toán cho một lập trình viên Ấn Độ cao gấp đôi chi phí cho một lập trình viên Việt Nam, nhưng năng suất của họ cao gấp ba lần. Đây chưa phải là sự chênh lệch quá ấn tượng. Trong một công ty phần mềm, lập trình viên giỏi nhất có thể có năng suất bằng 30 lần lập trình viên kém nhất. Không chỉ riêng phần mềm, trong mọi ngành công nghiệp, năng suất đóng vai trò quyết định chứ không phải giá nhân công. Bằng chứng là tuy giá nhân công rất cao, nhưng hàng hoá Mỹ trên thực tế có thể cạnh tranh với hàng hoá của bất cứ khu vực nào trên thế giới nhờ vào sự vượt trội của năng suất lao động. Bài toán được đặt ra "làm thế nào để nâng cao năng suất lao động của các lập trình viên Việt Nam" là một bài toán quá khó không thể hi vọng giải quyết trong một sớm một chiều.

    Sự thông minh không bù đắp được chất lượng đào tạo yếu kém

    Chúng ta cũng thường nói về sự thông minh của người Việt Nam. Nhưng ngành công nghiệp phần mềm cần người có khả năng làm việc. Thông minh thôi chưa đủ. Muốn trở thành một lập trình viên có năng suất cao, bạn phải được đào tạo chuyên nghiệp. Đã có quá nhiều ý kiến phê phán hệ thống giáo dục đào tạo của chúng ta hiện nay. Hai năm trôi qua cho thấy, chỉ tiêu 50 nghìn lập trình viên đến năm 2005 sẽ rất khó đạt được. "Ít về số lượng, yếu kém về chất lượng"  là bức tranh nhân lực đáng buồn của ngành CNTT Việt Nam. Và bài toán nhân lực cho ngành công nghiệp phần mềm vẫn chưa biết khi nào có lời giải.

    Hai lợi thế căn bản là "giá nhân công rẻ và người Việt Nam thông minh" mà chúng ta thường đưa ra trong các chiến dịch tiếp thị quốc tế, trên thực tế, chưa có tính thuyết phục. Trong khi đó, những bất lợi của chúng ta so với các đối thủ cạnh tranh trong khu vực vẫn chưa được cải thiện.

    Rào cản ngoại ngữ

    Bao giờ chúng ta mới vượt qua được rào cản này? Nếu coi ngoại ngữ là một kiểu hạ tầng, thì ở Việt Nam, đó là hạ tầng yếu kém nhất. Không thể tách rời ngành CNTT ra khỏi tiếng Anh. Đặc biệt đối với xuất khẩu phần mềm, tiếng Anh không chỉ là ngôn ngữ giao tiếp mà là ngôn ngữ để làm việc. Bên cạnh tiếng Anh, những ngôn ngữ quan trọng khác trong khu vực như tiếng Hoa, tiếng Nhật chúng ta cũng rất yếu kém. Khi được hỏi, cái gì là điểm yếu nhất của Việt Nam trong tiếp thị gia công phần mềm quốc tế, ông Klucs - một chuyên gia của chương trình CBI hỗ trợ các công ty phần mềm Việt Nam tiếp cận thị trường châu Âu, đã trả lời "đó là tiếng Anh". Ông cũng bày tỏ sự ngạc nhiên về trình độ tiếng Anh rất yếu của dân tin học Việt Nam, yếu nhất trong các nước mà ông phụ trách trong khuôn khổ chương trình CBI. Bản thân tôi khi đi tham quan làm việc ở một số nước đã tận mắt chứng kiến, dân tin học ở khắp nơi (kể cả những nước không nói tiếng Anh) đều có thể giao tiếp lưu loát bằng tiếng Anh. Tất nhiên, việc chúng ta kém ngoại ngữ thì ai cũng biết; phát hiện của tôi chả có gì mới. Nhưng điều đáng lo ngại là chúng ta không có hành động gì đáng kể để khắc phục sự yếu kém này. Hai năm qua, trình độ ngoại ngữ của chúng ta vẫn dẫm chân tại chỗ và nếu không có thay đổi cách mạng trong chương trình giáo dục đào tạo quốc gia, thì trong vòng 5 năm nữa, hạ tầng ngoại ngữ của chúng ta có lẽ sẽ tiếp tục là hạ tầng yếu kém nhất.

    Thiếu bề dày kinh nghiệm quốc tế để khách hàng tham chiếu

    Những công ty đã tiến hành các hoạt động tiếp thị để giành hợp đồng phần mềm quốc tế đều phải trả lời một câu hỏi căn bản rất giống nhau là "các anh đã làm các dự án tương tự chưa, làm cho ai"? Không ai mạo hiểm giao dự án cho những người thử việc lần đầu. Kinh nghiệm đo bằng "số dự án đã thực hiện thành công" là một tiêu chí lựa chọn đối tác gia công phần mềm quan trọng nhất. Điều này tạo ra lợi thế đặc biệt cho những nước đi trước như Ấn Độ, Ailen, Trung Quốc... Vì thế, nếu như chu kỳ "cung không đủ cầu" của thị trường phần mềm chưa quay lại, thì các nước mới làm phần mềm như Việt Nam có rất ít cơ hội chen chân vào thị trường này.

    Lợi thế cạnh tranh của Việt Nam chưa rõ ràng

    Giả thiết về thị trường phần mềm thế giới phát triển vũ bão "chỉ sợ không có đủ người làm" là giả thiết không tưởng. Trong mọi ngành nghề, kể cả xuất khẩu phần mềm, để chiếm được thị phần, bạn phải có đủ năng lực cạnh tranh. Thiếu năng lực cạnh tranh với những đối thủ trực tiếp và gián tiếp, không thể nói đến thị phần và thất bại là chắc chắn. So sánh với các đối thủ trực tiếp như Ấn Độ, Trung Quốc, Malaixia, Pakistan..., Việt Nam không những chưa có lợi thế tuyệt đối, mà ngay cả lợi thế cạnh tranh cũng rất khó tìm. Lợi thế cạnh tranh quốc gia của một ngành công nghiệp chỉ có thể tạo ra bằng những chính sách vĩ mô mạnh mẽ. Không phủ nhận là trong hai năm qua, nhà nước đã đưa ra nhiều chính sách và có chú trọng đầu tư thúc đẩy ngành CNTT, nhưng bằng đó chưa đủ tạo ra lợi thế của Việt Nam so với các nước trong khu vực. Đây là bài toán mà chúng ta phải giải quyết nếu muốn tiếp tục theo đuổi định hướng xuất khẩu phần mềm.

    Trên đây là những căn bệnh chính của nền công nghiệp phần mềm xuất khẩu non trẻ Việt Nam. Cá nhân tôi không cho rằng tốc độ internet quá chậm là nguyên nhân quan trọng. Chính sách thuế thì hoàn toàn chưa phải là nguyên nhân kìm hãm sự phát triển trong giai đoạn này. Một số công ty kêu ca việc vi phạm bản quyền đã bóp chết ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam, theo tôi là hơi phóng đại. Môi trường làm việc cũng chưa phải là vấn đề bức xúc. Trước khi trình bày quan điểm cá nhân về cơ hội của ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam, tôi xin quay về thị trường nội địa, nơi mà từ trước đến nay chúng ta thường an tâm là thị trường riêng của người Việt Nam.

    Hầu hết các công ty phần mềm Việt Nam chưa ra khỏi thị trường nội địa

    Trừ một số công ty có yếu tố nước ngoài và một vài công ty lớn trong nước, hầu hết các công ty phần mềm Việt Nam khác chưa bước ra khỏi thị trường nội địa. Sản phẩm chủ yếu của các công ty này là các chương trình nhỏ, phục vụ cho học tập, tra cứu, tính toán và quản lý ở quy mô nhỏ, mức độ phức tạp không cao. Khách hàng chính là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các tổ chức giáo dục đào tạo, các cơ quan hành chính sự nghiệp... Chỉ một số rất ít công ty Việt Nam có khả năng thực hiện những dự án phần mềm lớn, mức độ phức tạp tương đối cao.

    Phần lớn nhất của thị trường nội địa do các công ty nước ngoài nắm giữ

    Chưa có một tổ chức nào đánh giá chính xác kích cỡ của thị trường nội địa bao nhiêu và các công ty nước ngoài chiếm bao nhiêu thị trường này, nhưng có một thực tế là những hợp đồng lớn nhất đều do các công ty nước ngoài thực hiện. Điều đáng quan tâm là tốc độ tăng trưởng của thị trường phần mềm chủ yếu do những dự án lớn quyết định.

    Dự án thanh toán liên ngân hàng trị giá gần 50 triệu đô la Mỹ do Ngân Hàng Thế Giới tài trợ là một ví dụ điển hình. Không một công ty Việt Nam nào đủ điều kiện để tham gia đấu thầu. Các dự án lớn về SAP trị giá nhiều triệu đô la Mỹ cũng toàn do các công ty nước ngoài tại Việt Nam thực hiện. Các ứng dụng lớn cho các ngành như ngân hàng, hàng không, dầu khí, viễn thông... hầu hết mua từ nước ngoài hoặc do các công ty nước ngoài triển khai tại Việt Nam. Các công ty Việt Nam trong trường hợp tốt nhất chỉ có thể đóng vai trò đối tác địa phương, làm một phần công việc không quan trọng, chiếm tỉ trọng rất nhỏ.

    Có rất nhiều nguyên nhân của tình trạng này.

    Trước hết, không ai tin các công ty Việt Nam có thể làm được những dự án lớn như thế. Phần lớn các hồ sơ mời thầu đều yêu cầu có kinh nghiệm thực hiện những dự án tương tự (cả về nghiệp vụ, công nghệ và quy mô dự án). Yêu cầu này đủ để loại hầu hết các công ty phần mềm Việt Nam.

    Và sự thiếu tin tưởng đó có cơ sở. Phải nhìn nhận là hiện nay chúng ta chưa đủ trình độ và còn lâu mới đủ trình độ thực hiện những dự án tương tự. Để dễ hình dung, tôi xin làm một so sánh với ngành xây dựng. Hầu hết các công ty phần mềm Việt Nam đủ khả năng viết chương trình kế toán cho một chi nhánh ngân hàng. Nhưng nếu xây dựng chương trình kế toán này khó như xây một ngôi nhà 5-7 tầng, thì việc tin học hoá một hệ thống ngân hàng khó như xây ngôi nhà 100 tầng. Cần bao lâu nữa để các công ty xây dựng Việt Nam xây được nhà 100 tầng? Nhiều người ngộ nhận cho rằng, sau khi viết được một chương trình kế toán cho một xí nghiệp nhỏ là có thể dễ dàng nâng cấp áp dụng cho xí nghiệp lớn, số liệu nhiều hơn thì tăng bộ nhớ, tính toán nhiều hơn thì nâng cấp CPU. Cứ theo cái logic này thì một kỹ sư biết xây nhà 5 tầng nhất thiết phải xây được nhà 100 tầng! Mức độ phức tạp về nghiệp vụ của các dự án phần mềm lớn là cái mà chúng ta chưa đủ sức hình dung, chưa nói đến đủ sức giải quyết. Chúng ta không đủ trình độ để tư vấn; không có kỹ năng tái cấu trúc các quy trình nghiệp vụ; không đủ năng lực làm quản trị những dự án có quy mô quá lớn so với kinh nghiệm đã tích luỹ; Chúng ta biết rất mơ hồ về quản trị thay đổi; Chúng ta cũng không có các chuyên gia công nghệ đáp ứng được yêu cầu phức tạp của hệ thống... Nói tóm lại, phần mềm Việt Nam chỉ đủ khả năng giải quyết những bài toán nhỏ, những ứng dụng không quá phức tạp, phục vụ cho học tập, tra cứu, tính toán và quản lý ở mức tương đối đơn giản.

    Điều đáng ngạc nhiên là chưa có ai lên tiếng báo động về việc chúng ta đang thua cuộc ngay tại sân nhà. Trong khi các công ty phần mềm Việt Nam chật vật không kiếm được đầu ra, thì có rất nhiều công ty nước ngoài lập các nhóm phát triển phần mềm ngay tại Việt Nam để phục vụ cho nhu cầu ứng dụng tin học tại chỗ. Với kinh nghiệm và trình độ hơn hẳn, họ là những đối thủ không cân sức của các công ty phần mềm Việt Nam trong hầu hết các dự án lớn.

    Nhưng khi nhìn bức tranh một cách tổng thể (bao gồm cả phần mềm xuất khẩu và phần mềm nội địa) thì có thể đi đến kết luận: nếu Việt Nam không có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế thì cũng không đủ sức cạnh tranh ngay tại thị trường nội địa. Đó cũng chính là mối đe doạ của quá trình toàn cầu hoá, hầu hết các công ty Việt Nam chưa nhận thức được và chưa chuẩn bị gì để đối phó với những thách thức này.

    Phần mềm xuất khẩu khó khăn, phần mềm nội địa bị lấn lướt. Vậy thì, cơ hội nào cho ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam? Hành động của chúng ta trong thời gian qua đã phù hợp chưa? Có cần giảm bớt mục tiêu không? Có cần thay đổi định hướng chiến lược không?

    Sau sự kiện 11-9, một cách ngẫu nhiên Việt Nam có được một lợi thế mới: một quốc gia ổn định do ít bị ảnh hưởng bởi đạo Hồi. Thiết nghĩ, chúng ta phải rất tích cực chuẩn bị để tận dụng cơ hội đón nhận sự chuyển hướng đầu tư quốc tế từ các nước đạo Hồi sang các quốc gia có nền chính trị và xã hội ổn định hơn. Cơ hội trở thành một quốc gia xuất khẩu phần mềm của Việt Nam, theo cá nhân tôi, chưa phải là hết, nhưng cần nhìn nhận là rất khó khăn. Phải làm gì để cơ hội đó trở thành hiện thực là một bài toán cần được thảo luận và giải quyết ở quy mô quốc gia, với sự tham gia tích cực nhất của Chính Phủ và các doanh nghiệp CNTT.

    Cá nhân tôi cho rằng, chúng ta đang sống trong kinh tế thị trường thì hãy xuất phát từ chính thị trường để tìm lời giải. Thiếu thị trường, các công ty phần mềm không thể có kinh nghiệm, không thể xây dựng đội ngũ lập trình viên, không thể đào tạo các quản trị dự án, không thể nâng cao trình độ công nghệ, trình độ nghiệp vụ, trình độ quản lý... Nhưng thị trường từ đâu ra. Với tình trạng hiện nay, các công ty phần mềm Việt Nam không đủ sức tự giành giật thị trường. Vậy thì, Nhà Nước phải là khách hàng lớn nhất của ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

    Để xây dựng ngành công nghiệp dầu khí, chúng ta phải đầu tư hàng tỷ đô la để thăm dò, khai thác... Vậy để xây dựng ngành công nghiệp phần mềm với doanh số 500 triệu đô la, cũng cần phải đầu tư rất lớn. Hiện nay đầu tư của nhà nước chưa nhiều, lại phân chia cho nhiều hạng mục. Rất nhiều đầu tư chưa mang lại lợi ích trực tiếp thiết thực cho các doanh nghiệp phần mềm. Theo quan điểm của tôi, 100% đầu tư này nên nhằm một mục tiêu duy nhất là kích cầu. Chẳng hạn nhà nước đầu tư 500 triệu đô la Mỹ, giao cho các công ty phần mềm Việt Nam xây dựng các chương trình ứng dụng phục vụ cho các cơ quan nhà nước và các ngành kinh tế quan trọng. Bản thân đầu tư này sẽ mang lại hiệu quả kép. Thứ nhất, các cơ quan nhà nước và các ngành kinh tế quan trọng sẽ nâng cao năng lực và hiệu quả công việc nhờ quá trình tin học hoá. Thứ hai, đầu tư này tạo ra một thị trường phần mềm trị giá 500 triệu đô la Mỹ, một cơ hội tuyệt vời cho ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam từng bước trưởng thành. Khi các công ty phần mềm có công ăn việc làm, mọi khó khăn khác sẽ được giải quyết một cách tự nhiên. Một khi các công ty phần mềm phát triển tốt, bản thân họ sẽ đặt ra những mục tiêu cao hơn, lợi ích dài hạn hơn. Họ sẽ chủ động nâng cao năng suất lao động. Họ sẽ xây dựng hệ thống chất lượng ISO 9001 hay CMM. Họ sẽ tự đào tạo nhân viên đồng thời tác động lại hệ thống đào tạo Việt Nam thông qua yêu cầu cao về nguồn nhân lực. Ngoại ngữ cũng là trách nhiệm riêng của mỗi công ty... Xuất khẩu phần mềm sẽ là bước phát triển tiếp theo một cách tự nhiên giống như mọi ngành kinh tế Việt Nam buộc phải tham gia vào quá trình hội nhập.

    Ý kiến cá nhân tôi chưa hẳn là xác đáng. Nhưng có một điều tôi tin tuyệt đối là nếu chúng ta tiếp tục hành động như thời gian qua, ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam sẽ không có tương lai

    Hoàng Minh Châu
    Phó tổng giám đốc FPT

     

    ID: B0211_20