• Thứ Ba, 27/04/2004 15:58 (GMT+7)

    Bài học từ 280 tỷ, người trong cuộc nói gì?

    Thế Giới Vi Tính-PCW-B trân trọng giới thiệu những phân tích bước đầu về vấn đề mà VTV1 đã đưa ra trong bản tin thời sự đêm 22/11/2001 về hiệu quả đầu tư 280 tỷ đồng cho chương trình Quốc Gia về Công Nghệ Thông Tin(CTQG về CNTT, hay Chương Trình) giai đoạn 1996-1998.
    Điều quan trọng có thể rút ra từ Dự Án Tin Học Hóa Quản Lý Nhà Nước giai đoạn 1996-1998 là: Chúng ta phải hết sức tỉnh táo với các ứng dụng CNTT trong quản lý hành chính, bởi vì...

    Phó Thủ Tướng Phạm Gia Khiêm:
    Tạo môi trường và cơ sở cho sự phát triển CNTT 

    1.CTQG về CNTT (gọi tắt là Chương Trình) đã được triển khai một cách tích cực. Chương Trình đã thực hiện có kết quả một số nhiệm vụ chính đề ra trong Nghị Quyết số 49/CP của Chính Phủ về phát triển CNTT ở nước ta trong những năm 90, tạo môi trường và cơ sở cho sự phát triển CNTT của nước ta trong thời gian tới. Những kết quả của Chương Trình đã khẳng định tầm quan trọng và ý nghĩa cấp thiết của Nghị Quyết số 49/CP, góp phần quan trọng phát triển CNTT trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội của đất nước.

     2.Chương Trình được phát triển rộng khắp trên cả nước, đặc biệt đã nâng cao nhận thức của toàn xã hội về ý nghĩa, ứng dụng và phát triển CNTT. Chương Trình đã tạo điều kiện ban đầu cho việc phát triển CNTT ở nước ta. Kinh phí cấp trực tiếp từ ngân sách nhà nước dành cho Chương Trình còn hạn hẹp, nhưng Chương Trình đã huy động được các nguồn vốn khác, do đó Chương trình đã có đóng góp đáng kể cho việc ứng dụng và phát triển CNTT trong đời sống kinh tế xã hội ở nước ta.

    (Trích Thông Báo số 167/TB-VPCP,  ngày 14/8/1999, của Văn Phòng Chính Phủ về ý kiến của Phó Thủ Tướng Phạm Gia Khiêm tại cuộc họp báo cáo tổng kết Chương trình quốc gia về CNTT.
    Cuộc họp đã diễn ra vào ngày 1/7/1999 tại Văn Phòng Chính Phủ, với sự chủ trì của Phó Thủ Tướng Phạm Gia Khiêm.
    Phó Thủ Tướng Phạm Gia Khiêm từng là Bộ Trưởng Bộ KHCN&MT, Trưởng ban BCĐ Chương Trình Quốc Gia về CNTT từ tháng 12/1997)

    Cần đặt hiệu quả đầu tư lên hàng đầu


    GS Đặng Hữu, Trưởng Ban Khoa Giáo Trung Ương

    Với tư cách là Bộ Trưởng Bộ Khoa Học, Công Nghệ và Môi Trường, Trưởng Ban BCĐ Chương Trình Quốc Gia về CNTT từ tháng 5/1994 đến tháng 4/1997, GS Đặng Hữu đã gửi bài viết sau đến Thế Giới Vi Tính, phân tích về những bài học của quá trình tin học hoá quản lý nhà nước đã qua
    Tin học hoá quản lý hành chính nhà nước là một bộ phận quan trọng trong CTQG về CNTT được Nhà Nước thực sự đầu tư trong 3 năm 1996-1998. Chính Phủ đã tổng kết những mặt thành công và những mặt còn tồn tại để rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc triển khai tiếp tục trong thời gian tới.
    Thành tựu cơ bản của công tác tin học hoá quản lý hành chính nhà nước trong những năm qua là tạo ra cơ sở  ban đầu và sự chuyển biến trong việc ứng dụng CNTT trong công tác quản lý nhà nước, trước hết là các cơ quan Trung Ương của Chính Phủ và của Đảng.
    So với mức đầu tư của Nhà Nước còn rất hạn chế, vào khoảng 160 tỷ đồng trong vòng 3 năm, có thể khẳng định sự thành công của việc đầu tư một cách có hiệu quả của Nhà Nước nhằm tạo cơ sở hạ tầng kỹ thuật và nhân lực ban đầu cho công tác tin học hoá quản lý Nhà Nước  giai đoạn tiếp theo. Nếu thiếu sự đầu tư ban đầu này, chắc chắn chúng ta không có điều kiện để tiến hành Đề Án Tin Học Hoá Quản Lý Nhà Nước mà Chính Phủ vừa mới phê duyệt.
    Nguyên nhân cơ bản để có được những kết quả trên đây là công tác tin học hoá quản lý nhà nước được thực hiện theo mục tiêu, có định huớng và có tổ chức trong một chương trình thống nhất đã được Chính Phủ phê duyệt. Đồng thời, những kết quả tích cực trong giáo dục và đào tạo về CNTT trong hệ thống giáo dục và ngoài xã hội cũng như  tăng cường cơ sở kỹ thuật về viễn thông cũng hỗ trợ cho việc ứng dụng CNTT trong quản lý nhà nước.

    Tuy vậy, công tác tin học hoá quản lý hành chính nhà nước thời gian qua cũng bộc lộ một số tồn tại sau:
    1. Chưa gắn kết chặt chẽ giữa công tác cải cách hành chính nhà nước với công tác tin học hoá. Cải cách hành chính chưa dựa vào tin học hoá, nên thiếu một động lực mạnh mẽ và công cụ hữu hiệu để cải cách. Mặt khác, quy trình công tác quản lý, lề lối làm việc vẫn cũ kỹ, tư duy không đổi mới thì tin học cũng không thể áp dụng một cách có hiệu quả được. Cần có sự chỉ đạo chặt chẽ để gắn kết một cách hữu cơ tin học hoá và cải cách hành chính.

    2. Có phần nặng về trang bị phần cứng và xây dựng mạng, chưa chú trọng đúng mức đến việc xây dựng các hệ thống thông tin thực sự cấp bách cho công tác nghiệp vụ, quản lý và điều hành. Do đó, có tình trạng một số mạng xây dựng xong mà thông tin rất thiếu, chẳng khác làm đường giao thông xong mà không có xe chạy.

    3. Công tác đào tạo, huấn luyện và bồi dưỡng việc ứng dụng, sử dụng CNTT tiến hành còn chậm, chưa đồng bộ với việc xây dựng và triển khai các hệ thống CNTT. Vì vậy có hiện tượng hệ thống thông tin đã được lắp đặt nhưng chưa được sử dụng ngay, gây lãng phí trong việc đầu tư. Đôi chỗ, việc đầu tư các trang thiết bị phần cứng, phần mềm và nối mạng vượt quá năng lực của người sử dụng.

    Nguyên nhân cơ bản của những tồn tại trên đây là nhận thức về CNTT của các cấp, các ngành chưa được đầy đủ. Việc thực hiện còn mang tính chủ quan, thiếu căn cứ thực tiễn, không kịp thời đúc rút kinh nghiệm để nâng cao hiệu quả của các hệ thống thông tin.
    Những tồn tại trên đây rất cần được lưu ý cho việc triển khai công tác tin học hoá trong thời gian tới. Cần đặt hiệu quả đầu tư lên hàng đầu. Các dự án CNTT phải có mục tiêu rõ ràng cụ thể, phải tính toán kỹ, đảm bảo sự đồng bộ giữa phần cứng, phần mềm, đào tạo huấn luyện chuyên viên kỹ thuật và những người sử dụng, người quản lý, sao cho khi hệ thống được thiết lập xong là vận hành ngay được, thực hiện được mục tiêu đặt ra một cách có hiệu quả. Tránh vội vàng, rập khuôn, làm ào at5 theo phong trào mà không chuẩn bị kỹ càng các điều kiện thực hiện.

    Các nhà quản lý còn đứng ngoài cuộc...


    Ông Lương Cao Sơn, thư ký Ban Điều Hành Đề Án Tin Học Hoá Quản Lý Hành Chính Nhà Nước

    Trong tổng kinh phí ba năm 1996 - 1998 của CTQG về CNTT, Văn Phòng Chính Phủ được cấp 7 tỷ (2,5% tổng kinh phí); chưa kể 12 tỷ đồng khác được đầu tư để xây dựng mạng diện rộng CPNet.
    Theo ông, so với những mục tiêu đề ra, Dự Án Tin Học Hóa Quản Lý Nhà Nước giai đoạn 1996 - 1998 đã thành công hay không thành công?
    Ông Lương Cao Sơn: Còn rất nhiều việc cần phải xem xét, đánh giá một cách nghiêm túc. Nếu nói là không thành công thì quá khắt khe, bởi không có Dự án đó sẽ không có sự nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò của CNTT, không có các mạng cục bộ của các bộ, ngành, địa phương được liên kết với nhau qua mạng CPNet, không có hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điện tử được cập nhật đến hàng trăm cơ quan hành chính nhà nước như hiện nay...

    Xin được hỏi riêng về mạng CPNet vốn được đầu tư 12 tỷ đồng từ giai đoạn 1996 - 2000. Được biết cuối năm 2000, trong một dịp đến thăm và làm việc với Viện Công Nghệ Thông Tin, Thủ Tướng Phan Văn Khải có nói: Viện cần có chương trình giúp cho Văn Phòng Chính Phủ, vì máy tính và mạng tại Văn Phòng Chính Phủ không thiếu nhưng khi tôi cần thông tin thì lại không biết tìm ở đâu. Ông nghĩ gì về nhận xét ấy của Thủ Tướng?
    Thủ Tướng nói  rất đúng! Đó là đòi hỏi về tính hiệu quả của một hệ thống thông tin: nếu không coi việc xây dựng thông tin điện tử là mục tiêu thì các hệ thống kỹ thuật dù hiện đại đến đâu cũng không đáp ứng yêu cầu của công tác chỉ đạo điều hành. Chính vì vậy, trong Đề Án 112 có nêu: 'Lấy mục tiêu xây dựng thông tin dữ liệu làm chính, CNTT là phương tiện quan trọng để thực hiện mục tiêu này'. Xây dựng thông tin là công việc của cả bộ máy hành chính nhà nước từ các Bộ, ngành đến UBND các tỉnh. Khi nguồn thông tin sinh ra trong quá trình hoạt động điều hành hệ thống đó được điện tử hoá, tạo thành kho tài nguyên quốc gia thì mọi yêu cầu về thông tin quản lý điều hành sẽ mau chóng được đáp ứng.

    Trở lại với Dự An Tin Học Hoá Quản Lý Nhà Nước giai đoạn 1996 - 2000. Nếu có, thì đâu là những nguyên nhân khiến Dự Án chưa đạt hiệu quả như mong muốn?
    Theo tôi, những nguyên nhân chủ yếu khiến Dự Án chưa đạt hiệu quả như mong muốn là:
    Về khách quan, đó là việc coi tin học hoá quản lý nhà nước là nhiệm vụ của các nhà khoa học công nghệ chứ không phải là của các nhà quản lý. Các nhà quản lý còn đứng ngoài cuộc thì không có sự bảo đảm cho thành công.
    Sự đầu tư không tương xứng, không đến nơi đến chốn. 280 tỷ đồng đã đầu tư cho Dự Án không là gì cả nếu chia cho khoảng 120 đơn vị (các Bộ, ngành, các địa phương) trong 3 năm 1996-1998.
    Mặt khác, Ban Chỉ Đạo Chương Trình chưa gắn các giải pháp công nghệ với các giải pháp về tổ chức quản lý, cải cách hành chính và chuẩn hoá thông tin. Theo tôi, đây là một trong những nguyên nhân phải kể đến. 

    Những bài học kinh nghiệm nào cần rút ra cho việc chuẩn bị và triển khai Đề An Tin Học Hoá Quản Lý Hành Chính Nhà Nước giai đoạn 2001-2005 (kèm theo Quyết Định số 112/2001/QĐ-TTg của TTCP)?
    Bài học lớn nhất cần rút ra cho Đề Án 112 là phải gắn tin học hoá quản lý hành chính nhà nước với vấn đề cải cách hành chính; và khi triển khai Đề Án này, các nhà quản lý phải giữ vai trò chủ đạo.
    Đặng Kim Long thực hiện

    Kết  quả  trên  thực  tế:Rất khiêm tốn!
    Trích đề án tin học hoá Quản Lý Hành Chính Nhà Nước giai đoạn 2001 - 2005 của Văn Phòng Chính Phủ(ban hành kèm theo QĐ 112/2001/QĐ/TTg), mục II - Một số đánh giá tổng quát tình hình tin học hoá quản lý hành chính nhà nước trong thời gian qua.
    .. So với mục tiêu tin học hoá hệ thống thông tin điều hành đã đề ra trong Nghị Quyết 49/CP, kết quả đạt được trên thực tế còn rất khiêm tốn...

    Về điều hành vĩ mô: CTQG về CNTT được đầu tư từ năm 1996 và kết thúc vào đầu năm 1998 với kinh phí 280 tỷ đồng; trong đó có nhiệm vụ tin học hoá tại các cơ quan hành chính nhà nước với kinh phí khoảng 160 tỷ đồng. Trong bối cảnh đó, nhiều hạng mục lớn đã được Thủ Tướng Chính Phủ phê duyệt trong kế hoạch tổng thể chưa triển khai được.
    Các dự án tin học hoá quản lý hành chính nhà nước của các Bộ và UBND cấp tỉnh cũng mới chỉ thực hiện được một phần. Vốn đầu tư cho tin học hoá 160 tỷ đồng trong ba năm 1996-1998 mới chỉ đáp ứng 20%-25% nhu cầu kinh phí của các đề án đã được duyệt của 100 cơ quan hành chính cấp Bộ, cấp tỉnh.
    Theo điều tra của Văn Phòng Chính Phủ, đa số các Đề Án tin học hoá bị ngừng lại; một số cơ quan có khả năng tiếp tục đầu tư cho các mục tiêu tin học hoá quản lý nhà nước, nhưng phát triển theo hướng công nghệ riêng; một số cơ quan khác thì chờ chủ trương phát triển thống nhất chung của Chính Phủ. Các CSDL quốc gia mới chỉ được đáp ứng  khoảng 10% nhu cầu vốn đầu tư (30 tỷ đồng). Do vậy, các CSDL quốc gia chỉ dừng lại ở giai đoạn hoàn thành luận chứng khả thi và triển khai thử nghiệm, đang chờ vốn để tiếp tục triển khai đề án.

    Cát cứ thông tin xuất hiện: Nhiều Bộ, ngành coi thông tin quản lý của mình là thông tin riêng của ngành, không coi đó là tài sản quốc gia hoặc cung cấp dữ liệu tổng hợp không đầy đủ để các cơ quan khác có đủ thông tin phục vụ cho việc hoạch định chính sách và ra quyết định...
    Dữ liệu trên mạng tin học: Hệ thống kỹ thuật hạ tầng CNTT đã được xây dựng ở một trình độ nhất định, cho phép việc truyền, nhận thông tin đa chiều. Thông tin phát sinh trong quá trình hoạt động quản lý hành chính có nhiều, nhưng việc tích luỹ thông tin dưới dạng điện tử chỉ mới dừng ở mức thấp; đến nay mới tích luỹ trên mạng ở một số loại thông tin cơ bản. Nguyên nhân chủ yếu ở đây là các cấp, các ngành chưa kiên quyết gắn việc ứng dụng công nghệ tin học với xử lý công việc hàng ngày, chưa thực hiện tốt kỷ cương hành chính trong việc cập nhật thông tin điện tử, chưa cải cách hành chính đủ mạnh để đưa hệ thống ứng dụng tin học vào guồng máy hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước.

    Về tổ chức bộ máy: Cho đến nay vẫn chưa có quy định chung về vị trí, chức năng, nhiệm vụ đối với các đơn vị chủ trì các đề án tin học hoá quản lý hành chính nhà nước trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước; thậm chí không có ngạch công chức, không có chức danh cho cán bộ làm công tác tin học. Vì lý do này, các cơ quan hành chính nhà nước đã không thu hút được chuyên gia kỹ thuật giỏi; do đó việc tiếp thu chuyển giao công nghệ, chỉ đạo triển khai các dự án ứng dụng rất bị hạn chế...
    Về cơ chế tài chính: từ năm 1998, kinh phí cho tin học hoá quản lý hành chính nhà nước chuyển sang nguồn ngân sách chi thường xuyên, do vậy các Bộ, ngành, địa phương không đủ kinh phí đầu tư để hoàn thành các đề án tin học hoá, không thể tiếp tục triển khai các ứng dụng cơ bản trong quản lý, điều hành. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật tin học của nhiều cơ quan hành chính nhà nước, về cơ bản, đến nay vẫn như tình trạng của năm 1998...

    Nhìn lại, từ mục tiêu....
    GS Phan Đình Diệu
    (Nguyên phó trưởng ban thường trực Ban Chỉ Đạo CTQG về CNTT, từ tháng 5/1994 đến tháng 6/1997)
    Rất khó trả lời rằng nếu so với các mục tiêu đề ra thì CTQG về CNTT là thành công hay không thành công. Vì sao vậy?
    Theo yêu cầu của lãnh đạo, vào năm 1992 một bản dự thảo chính sách phát triển và ứng dụng CNTT ở nước ta đã được nghiên cứu chuẩn bị khá công phu, sau đó đã được chấp nhận để trở thành nội dung cơ bản của Nghị Quyết 49/CP của Chính Phủ (ban hành ngày 4/8/1993). CTQG về CNTT ra đời, với nhiệm vụ triển khai thực hiện Nghị Quyết 49/CP, mà nội dung được cụ thể hoá trong kế hoạch tổng thể  về phát triển và ứng dụng CNTT đến năm 2000 ban hành kèm theo Quyết Định 211/TTg của TT ngày 7/4/1995.
    Mục tiêu được nêu trong Nghị Quyết 49/CP là: 'Xây dựng những nền móng bước đầu vững chắc cho một kết cấu hạ tầng thông tin trong xã hội có khả năng đáp ứng các nhu cầu cơ bản về thông tin trong quản lý nhà nước và trong các hoạt động kinh tế - xã hội...'. Trong vế đầu này của mục tiêu, lần đầu tiên ta sử dụng khái niệm kết cấu hạ tầng thông tin (information infrastructure) vốn còn rất mới vào những năm đó. Vế thứ hai của mục tiêu là 'tích cực xây dựng ngành công nghiệp CNTT thành một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước, góp phần chuẩn bị cho nước ta có vị trí xứng đáng trong khu vực khi bước vào thế kỷ XXI'. Mục tiêu này được đặt sau mục tiêu xây dựng kết cấu hạ tầng thông tin vì vấn đề ưu tiên ở Việt Nam phải là đẩy mạnh ứng dụng CNTT để tạo ra khả năng tổ chức, khai thác các nguồn tài nguyên thông tin của đất nước, phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá của đất nước là chủ yếu.

    Để chuẩn bị cho xã hội nói chung đi vào kỷ nguyên xã hội thông tin, chúng ta cần một kết cấu hạ tầng tương ứng với xã hội đó. Về mặt kỹ thuật, dù lúc ấy internet chưa phát triển rộng khắp song chúng ta đã xác định Việt Nam cần có hệ thống các mạng máy tính-truyền thông phủ khắp đất nước và liên hệ được với bên ngoài; cùng các cơ sở dữ liệu (CSDL), các hệ thống thông tin trong mọi ngành, mọi cơ quan quản lý nhà nước, kinh tế, văn hoá, khoa học, xã hội... chứa đựng và lưu thông trên các mạng ấy.  
    CTQG về CNTT dự kiến đến khoảng cuối năm 2000 sẽ hình thành được một 'cột sống' cho kết cấu hạ tầng thông tin đó bằng cách thực hiện đồng bộ một hệ thống các dự án tin học hoá, có sự bổ sung của việc xây dựng một số CSDL quốc gia chủ yếu, để tạo nền móng bước đầu có thể gọi là vững chắc, có khả năng cung cấp thông tin cho các cơ quan quản lý nhà nước, cho các hoạt động kinh tế-xã hội của đất nước; vừa phục vụ quản lý nhà nước, vừa tạo được hệ thống thông tin làm cơ sở để Nhà Nước và các cơ quan khác có thể thực hiện các dịch vụ thông tin, đáp ứng nhu cầu thông tin của xã hội, phục vụ yêu cầu thông tin của mọi người dân trong các hoạt động kinh tế, văn hoá, đồng thời góp phần vào việc dân chủ hóa xã hội.
    Chính vì vậy, rất khó trả lời rằng nếu so với các mục tiêu đề ra thì CTQG về CNTT thành công hay không thành công. Bởi mục tiêu được đề ra là xây dựng 'nền móng bước đầu vững chắc' của một kết cấu hạ tầng thông tin, một mục tiêu cho cả thập niên 90, và chắc chắn còn phải tiếp tục trong nhiều năm sau đó, mà trên thực tế thì đến đầu năm 1998, CTQG về CNTT đã được im lặng kết thúc khi mọi việc đang làm đều bị bỏ dở...

    Dù sao, việc triển khai bước đầu các dự án tin học hoá song song với phổ biến và giáo dục kiến thức tin học cho tất cả các cán bộ liên quan đến việc thực hiện các dự án đó (cán bộ lãnh đạo và quản lý chủ chốt, cán bộ nghiệp vụ về quản lý, cán bộ quản lý các dự án tin học hoá, và các chuyên viên tin học, đặc biệt về phần mềm ứng dụng) đã làm lay động được nhận thức của một đội ngũ cán bộ chủ chốt cho sự nghiệp tin học hoá. Đó có thể xem là một thành công bước đầu của việc tin học hoá trong giai đoạn ấy.
    Đối với chúng ta, tin học hoá là một công việc mới và rất phức tạp, do đó nội dung của các dự án tin học hoá cũng được xác định dần dần: BCĐ chỉ đưa ra một số gợi ý, còn nội dung cụ thể sẽ do từng Bộ, ngành, địa phương tự xác định với sự hỗ trợ và tham khảo ý kiến từ BCĐ. Riêng với các tỉnh, do đây là nội dung mới mẻ và cũng do lực lượng CNTT tại chỗ còn yếu, nên CTQG tổ chức các lớp tập huấn để hỗ trợ các địa phương đào tạo lực lượng nghiên cứu, tự đề xuất ra sơ đồ tin học hoá quản lý (các tỉnh dù lớn, nhỏ khác nhau nhưng nhiệm vụ hành chính khá gần nhau). Có thể nói do có CTQG mà các nhà tin học có cơ hội thâm nhập sâu hơn vào công việc quản lý, từ đó trợ giúp có hiệu quả cho các lãnh đạo địa phương đang rất mong muốn tin học hoá các hoạt động quản lý hành chính. Trong năm 1996 và nửa năm 1997, việc tiếp cận nghiên cứu nhiệm vụ quản lý ở các cơ quan nhà nước đã giúp chúng tôi bắt đầu thiết kế được những dự án tin học hoá, đưa ra hình mẫu về mạng tin học hoá ở các địa phương với các chuẩn công nghệ theo quan điểm hệ thống mở...
    Qua đó, cũng dần dần tìm ra rõ ràng hơn con đường thực hiện mục tiêu thứ hai: để phát triển nền công nghiệp CNTT, chủ yếu là công nghiệp phần mềm và dịch vụ, cần hỗ trợ các công ty tin học trong nước phát triển để chiếm lấy trước hết là thị trường nội địa qua việc tham gia các dự án tin học hoá quản lý nhà nước.

    Đáng mừng là sau một số bước khởi đầu việc tin học hoá, dù CTQG về CNTT trên thực tế bị kết thúc, nhưng ở một số địa phương và cơ quan công việc vẫn được tiếp tục triển khai cho dù không còn sự chỉ đạo thống nhất ở cấp quốc gia. Chẳng hạn tại TP.HCM, các chuyên gia về quản lý và lực lượng CNTT có khả năng phát triển...

    Bỏ dở việc đang làm là hết sức lãng phí


       Giáo sư Phan Đình Diệu:

    Thưa giáo sư, việc kết thúc CTQG về CNTT vào năm 1998 lâu nay vẫn gây thắc mắc không ít bởi, theo kế hoạch ban đầu, lẽ ra Chương Trình sẽ triển khai đến tận năm 2000. Vì sao lại có việc kết thúc sớm như thế?
    GS Phan Đình Diệu: Giữa năm 1997, tôi thôi giữ chức phó trưởng BCĐ của CTQG về CNTT, chuyển về dạy học. Một thời gian sau, tôi được nghe nói là BCĐ không họp nữa và kể từ giữa năm 1997 thì hầu như không còn tồn tại. Đến đầu năm 1998, CTQG về CNTT được tuyên bố kết thúc, BCĐ được giải tán.
    Sau đó, Chính Phủ có quyết định hình thành 4 chương trình kinh tế-kỹ thuật trọng điểm (về CNTT, công nghệ sinh học, vật liệu mới và tự động hoá). Khi được biết quyết định này vào đầu năm 1998, tôi có viết thư gửi Thủ Tướng Phan Văn Khải rằng: Chương trình CNTT với nội dung chủ yếu là tin học hoá đã bị thay thế bởi chương trình kinh tế-kỹ thuật phát triển công nghiệp CNTT, đi xa khỏi mục tiêu mà Nghị Quyết 49/CP của Chính Phủ đã đề ra. Chính Phủ đã chỉ đạo nghiêm túc CTQG về CNTT suốt mấy năm để thực hiện Nghị Quyết 49/CP nên nếu đã kết thúc thì cần có kiểm điểm để rút kinh nghiệm.
    Sau khi nhận thư, Thủ Tướng Phan Văn Khải mời tôi đến trao đổi cùng với ông và Phó Thủ Tướng Phạm Gia Khiêm. Tôi đã nói rất thẳng: Việc đang làm mà bỏ dở là hết sức lãng phí. Công việc của CTQG về CNTT mới khởi đầu đã bị 'đầu voi đuôi chuột' như thế. Thủ Tướng đã hỏi Phó Thủ Tướng. Anh Khiêm đã trình bày lý do về việc phải xây dựng một chương trình kinh tế-kỹ thuật về CNTT cũng như ba chương trình kia, và 4 chương trình này là 4 lĩnh vực mũi nhọn để chuẩn bị cho thế kỷ XXI, cho ra '4 nắm đấm bằng thép' tiến vào thế kỷ XXI. Tôi hỏi: Với dự định xây dựng công nghiệp CNTT, xin cho biết nền công nghiệp ấy sẽ sản xuất ra những sản phẩm gì và thị trường ở đâu? Phó Thủ Tướng Phạm Gia Khiêm nói anh em sẽ cụ thể. Tôi nói: 'Xây dựng cho quốc gia một ngành công nghiệp mũi nhọn mà chưa biết làm ra gì, bán ở đâu là hết sức phiêu lưu!'.
    Tôi chỉ có thể trả lời về CTQG về CNTT cho đến thời điểm giữa năm 1997 khi tôi còn ở cương vị phó trưởng ban thường trực BCĐ.

    Giáo sư nghĩ gì về việc ra đời Đề Án THH QLNN ban hành kèm theo Quyết Định 112 của Thủ Tướng Chính Phủ, sau khi việc ứng dụng CNTT trên cả nước đã lâm vào tình trạng phân tán, tự phát vì thiếu sự chỉ đạo thống nhất do chấm dứt CTQG về CNTT?
    Tôi có được đọc Quyết Định 112, và sau đó với nhiệt tình đối với sự nghiệp tin học hoá của nước nhà, tôi có gửi đến Thủ Tướng một bức thư ngắn, tỏ sự vui mừng được thấy Thủ Tướng hết sức quan tâm đến sự nghiệp này, một sự nghiệp tuy được khởi đầu từ đã rất lâu và tốn kém cũng đã không ít nhưng trầy trật mãi cho đến nay vẫn chưa có mấy hiệu quả thiết thực. Tuy nhiên, sau khi đọc kỹ văn bản Đề Án và Phụ Lục, tôi có xin được trình bày với Thủ Tướng một số ý kiến tóm tắt sau đây:

    1. Tôi nghĩ các quyết định lớn của Chính Phủ về một vấn đề nên có sự kế thừa
    , một quyết định mới cần được ban hành trên cơ sở kiểm điểm nghiêm túc việc thành bại, lý do, trách nhiệm... của việc thực hiện quyết định trước đó. Quyết Định 112/2001 lần này là tiếp tục thực hiện Nghị Quyết 49/CP/1993 và Quyết Định 211/TTg/1995, xa hơn nữa là tiếp tục các đề án do Văn Phòng Chính Phủ triển khai trước đó (do chính phủ Pháp tài trợ). Cần kiểm điểm nghiêm khắc việc thực hiện các quyết định và đề án nói trên, vì theo tôi biết thì ngoài việc nhập và thay thế khá nhiều máy móc thiết bị với kinh phí khá lớn, các nội dung tin học hoá chưa thực hiện được bao nhiêu. Cũng cần kiểm điểm vì sao QĐ 211/1995 (tức CTQG về CNTT) bị đình chỉ từ năm 1998?

    2. Nội dung Đề Án đi kèm QĐ 112/2001 được chuẩn bị quá sơ sài
    , không đủ luận cứ khoa học, các khái niệm có nhiều lầm lẫn, chưa thể xem là một đề án tiền khả thi. Tôi có cảm tưởng người viết đề án viết để cho có, chưa phải viết nghiêm túc để mà làm một cách nghiêm túc. Nặng về phần trang thiết bị và mạng mà rất qua loa về nội dung thông tin đáng phải là phần chủ yếu nhất của Đề Án.

    3.
    Về tổ chức chỉ đạo thì quy định như Đề Án là hoàn toàn bất cập. Cả sự nghiệp tin học hoá quản lý nhà nước mà giao cho Văn Phòng Chính Phủ (thực tế sẽ là một số người phụ trách tin học ở VPCP hiện nay?) chỉ đạo thì e rằng khó mà thành công được. Kinh nghiệm của CTQG về CNTT giai đoạn 1996-1998 là có cả Ban Chỉ Đạo Quốc Gia (giúp việc Thủ Tướng), mỗi Bộ, ngành, mỗi tỉnh đều có Ban Chỉ Đạo do bộ (thứ) trưởng, chủ tịch (hoặc phó chủ tịch) trực tiếp đứng đầu, có các ban chuyên môn, hội đồng khoa học nghiên cứu, chuẩn bị các nội dung cho chỉ đạo, mà công việc vẫn không làm xuể, bởi nếu định làm thật thì phải hiểu tin học hoá là công việc hết sức khó khăn, đòi hỏi nhiều tâm huyết, công sức và trí tuệ.

    4. Đề Án quan tâm nhiều đến mua sắm máy móc và trang thiết bị, thậm chí còn chỉ định trước là mua máy của những công ty nào, xác định mức tối thiểu của tổng kinh phí (không ít hơn 1000 tỷ), mà lẽ ra chi tiết về những điều này chỉ nên dự toán khi có đề án khả thi, tức là sau khi nghiên cứu chi tiết mọi nội dung công việc, đề xuất các phương án thực thi, v.v... 
    Tôi mong rằng lần này sự nghiệp tin học hoá quản lý nhà nước nếu được quyết tâm khởi động lại thì sẽ được chỉ đạo và thực hiện thật sự khoa học và nghiêm túc, làm đến nơi đến chốn; và sự nghiêm túc một cách khoa học với ý thức trách nhiệm cao đó phải được thể hiện ngay từ bước xây dựng Đề Án.

    H.Thiện - K.Long thực hiện

    Chúng tôi hy vọng..


              TS Chu Hảo

    Thứ trưởng Bộ Khoa Học, Công Nghệ và Môi Trường
    Phó trưởng ban thường trực Ban Chỉ Đạo CTQG về CNTT từ tháng 6/97 đến 1999 (khi BCĐ ngừng hoạt động)
    Với tư cách là một 'người trong cuộc' ngay từ đầu, tác giả cung cấp một số thông tin để bạn đọc dễ hình dung chính xác hơn về CTQG về CNTT và nhiều việc còn dang dở nay lại được tiếp nối từ quyết tâm của lãnh đạo Đảng và Chính Phủ.
    'Nhiều ý kiến cho rằng lẽ ra nên duy trì thực hiện CTQG về CNTT cho đến hết năm 2000 như tinh thần Nghị Quyết 49/CP. Tôi cũng đồng tình với ý kiến đó, nhưng chuyện đã rồi. May thay, bây giờ chúng ta lại có Chỉ Thị 58/CT-TW và Quyết Định 81/2001/QĐ-TTg để tiếp tục thực hiện công việc còn dang dở...'

    May thay, bây giờ lại có thể tiếp tục công việc còn dang dở...
    Tin học hoá quản lý nhà nước chỉ là một trong các nội dung quan trọng của CTQG về CNTT nhằm thực hiện kế hoạch tổng thể được xây dựng trên cơ sở Nghị Quyết 49/CP của Chính Phủ về ứng dụng CNTT ở Việt Nam giai đoạn 1996-2000.
    Gần đây, một bản tin của Đài VTV1 có nói rằng việc đầu tư 280 tỷ đồng vào giai đoạn trước đã 'không thành công' (!). Là một trong những 'người trong cuộc' từ đầu, tôi xin cung cấp cho bạn đọc một số thông tin có liên quan để chúng ta có thể cùng nhau khẳng định 'cái được' và 'cái chưa được' của giai đoạn đã qua; và nhất là để cùng nhau triển khai thật tốt Đề Án về Chính Phủ Điện Tử (e-Government) trong kế hoạch tổng thể thực hiện Chỉ Thị 58/CT-TW của Bộ Chính Trị và Quyết Định 81/2001/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính Phủ.
    Trong 3 năm 1996-1998, Nhà Nước đã đầu tư 280 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước để thực hiện CTQG về CNTT với 4 nội dung lớn: đào tạo nguồn nhân lực CNTT; xây dựng cơ sở hạ tầng các mạng truyền thông máy tính; ứng dụng CNTT trong quản lý nhà nước và các hoạt động kinh tế-xã hội khác; phát triển công nghiệp CNTT. Từ năm 1999, theo quyết định của Thủ Tướng Chính Phủ, CTQG về CNTT dừng hoạt động và thành lập Chương Trình Kinh Tế - Kỹ Thuật về CNTT, cùng các chương trình kinh tế-kỹ thuật về tự động hoá, vật liệu mới và công nghệ sinh học, với nội dung chủ yếu là ứng dụng các công nghệ tiên tiến để tạo ra các sản phẩm có giá trị kinh tế-kỹ thuật cao.
    Nhiều ý kiến cho rằng lẽ ra nên duy trì thực hiện CTQG về CNTT cho đến hết năm 2000 như tinh thần Nghị Quyết 49/CP. Tôi cũng đồng tình với ý kiến đó vì CNTT có những đặc thù riêng tác động mạnh mẽ đến tất cả các hoạt động kinh tế-kỹ thuật và an ninh-quốc phòng. Nhưng đó là chuyện đã rồi. May thay, bây giờ chúng ta lại có Chỉ Thị 58/CT-TW và Quyết Định 81/2001/QĐ-TTg để tiếp tục thực hiện công việc còn dang dở...

    Chú trọng hơn đến tin học hoá các dịch vụ công...
    Trong 4 nội dung cơ bản của CTQG về CNTT thì 3 nội dung đầu tiên đã được thực hiện khá tốt. Từ lúc có chưa đến số ngàn người có trình độ đại học vào lúc bắt đầu thực hiện Chương Trình, đến năm 2000 chúng ta đã có khoảng 20.000 người có trình độ kỹ sư trở lên về CNTT. Đúng là về chất lượng đào tạo còn có nhiều vấn đề, nhưng 7 khoa CNTT ở các trường đại học lớn được Chương Trình đầu tư đã phát huy tác dụng rất tốt. Từ lúc chúng ta chỉ mới biết đến mạng cục bộ, chừng mực nào đó là các mạng diện rộng, thế mà cuối năm 1997 chúng ta đã được tiếp cận với một số dịch vụ internet, điều mà ngay trong kế hoạch tổng thể chúng ta chưa lường trước được. Từ chỗ máy tính mới chỉ được dùng chủ yếu thay máy đánh chữ, đến khi phải xử lý sự cố năm 2000 (Y2K) chúng ta đã ngạc nhiên nhận ra rằng: nếu các mạng máy tính chuyên dụng của ngành ngân hàng, tài chính, hải quan, bưu chính-viễn thông, du lịch, điện lực, hàng không... ngưng hoạt động thì chắc chắn nền kinh tế của cả nước sẽ bị ngưng trệ. Nội dung cuối cùng về công nghiệp CNTT, chúng ta đã không có đủ thời gian để triển khai. Chính vì vậy mà năm 2000, Chính Phủ đã ra Nghị Quyết 07/2000/NQ-CP về phát triển công nghiệp phần mềm, là một phần quan trọng của công nghiệp CNTT nói chung, mà chúng ta có thể có lợi thế.

    Trở lại vấn đề tin học hoá quản lý nhà nước. Đó là một phần trong nôdung quan trọng về ứng dụng CNTT. Ngày đó, hầu hết chúng ta chưa biết tới khái niệm Chính Phủ Điện Tử, càng chưa nhận thức được rằng Chính Phủ Điện Tử gồm hai mảng lớn: tin học hoá hoạt động hành chính trong nội bộ các cơ quan nhà nước (G2G) và tin học hóa các dịch vụ công (G2C). Chúng ta đã đầu tư hơn 50% tổng kinh phí của Chương Trình cho mảng G2G ở các Bộ, ngành và các tỉnh, thành phố. Không phải Bộ, ngành, tỉnh và thành phố nào cũng sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư ban đầu tuy rất ít ỏi nhưng hết sức quan trọng này; nhưng rõ ràng đó là 'cú hích' quan trọng để hình thành mạng diện rộng của Chính Phủ sau này.
    Ngoài ra, chúng ta đã có tham vọng xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu điện tử quốc gia và đã đầu tư kinh phí để xây dựng 6 dự án khả thi hoặc tiền khả thi các cơ sở dữ liệu điện tử về dân cư, địa chính, thống kê, v.v... Nhưng theo tôi hiểu, đây là một công việc kỹ thuật và tổ chức quá khó so với trình độ đảm bảo thông tin hiện tại của nước ta, hơn nữa lại đòi hỏi kinh phí lớn và phải thực hiện trong một thời gian lâu dài nên đến bây giờ chúng ta vẫn chưa hết lúng túng...

    Chúng tôi hy vọng...
    Giữa năm 1997, theo đề nghị của Văn Phòng Chính Phủ, Thủ Tướng Chính Phủ đã ban hành Chỉ Thị 218/CT-TTg và Quyết Định 280/QĐ-TTg giao cho Văn Phòng Chính Phủ chủ trì triển khai nối mạng diện rộng trong các cơ quan hành chính của Chính Phủ. Mạng này đã có thể được xây dựng và phát huy tác dụng tốt hơn nếu có sự phối hợp chặt chẽ và đồng bộ với các hoạt động chung của CTQG về CNTT (cũ).
    Gần đây, cũng theo đề nghị của Văn Phòng Chính Phủ, Thủ Tướng đã ban hành Quyết Định 112/QĐ-TTg phê duyệt Đề An Tin Học Hoá Quản Lý Nhà Nước.
    Chúng tôi hy vọng rằng Đề Án này sẽ được điều chỉnh để chú trọng hơn tới mảng tin học hoá các dịch vụ công; và sẽ được thực hiện trong khuôn khổ của kế hoạch tổng thể về ứng dụng và phát triển CNTT nhằm thực hiện Chỉ Thị 58/CT-TW của Bộ Chính Trị và Quyết định 81/2001/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính Phủ.

    Điều đáng tiếc:Đang khởi động thì... Ngừng lại!
    Với tư cách là một người tham gia quản lý CNTT đã 30 năm nay và cũng là người làm trong lĩnh vực CNTT, tôi thấy điều quan trọng nhất với việc phát triển CNTT và cả các lĩnh vực khác là một sự chỉ đạo nhất quán thông qua một tổ chức nhất quán, tương đối cố định trong một thời gian.
    Việc chúng ta triển khai CTQG về CNTT là lần đầu tiên tiến hành một chương trình tổng thể ở tầm cỡ quốc gia, trong một lĩnh vực công nghệ được xem là trọng điểm. Tuy vậy, CTQG này chỉ tồn tại có hai năm rưỡi. Hai năm 1996-1997 và nửa năm 1998 chỉ là thời gian chủ yếu của việc sắp xếp về tổ chức và triển khai thử nghiệm một số dự án để rút kinh nghiệm. Chương Trình đã có một số kết quả đáng khích lệ, dọn đường cho những dự án lớn hơn nhưng đang ở quá trình khởi động ấy thì bị ngừng lại, có ảnh hưởng rất không thuận lợi cho việc tiếp tục ứng dụng và phát triển CNTT trong những năm tiếp sau. Thực tế từ giữa năm 1998, chúng ta đã không có sự chỉ đạo chung. Điều này thể hiện sự thiếu nhất quán trong tổ chức, nhất là đối với một chương trình tầm cỡ quốc gia càng không nên nóng vội, tùy tiện thay đổi để rồi lại rơi vào tình trạng phát triển CNTT một cách phân tán, tự phát như giai đoạn trước đó và sau 1998.

    Một bài học kinh nghiệm: mức đầu tư 280 tỷ đồng cho ba năm với một ngành lớn như CNTT, lại phải dàn ra khắp cả nước thì chỉ đủ để khởi động, chưa thể làm được việc gì lớn. Ông Gaylen Duncan, chủ tịch Hội Tin Học Canada, chuyên viên của Dự Án CNTT Việt Nam - Canada có nhắc về việc đầu tư đến mức tới hạn sẽ tạo ra bước đột phá, còn đầu tư dưới mức ấy thì chẳng có tác dụng gì cả. Ở Canada, mức tới hạn này là khoảng từ 7 đến 10% GDP, còn ở Việt Nam là bao nhiêu thì các nhà kinh tế sẽ phải cùng các chuyên gia CNTT ngồi tính với nhau. Tuy vậy, rõ ràng trong khi mức đầu tư từ ngân sách nhà nước còn hạn hẹp thì điều thiếu sót là chúng ta vẫn chưa xác lập được cơ chế và chính sách động viên các thành phần kinh tế khác tham gia đầu tư phát triển CNTT từ những nguồn vốn ngoài nhà nước. Ban Chỉ Đạo CTQG về CNTT đã chuyển nhiều dự thảo về các chính sách khác nhau để tạo điều kiện phát triển CNTT nhưng các Bộ, ngành liên quan cho đến khi ngừng Chương Trình vẫn chưa tìm được thì giờ ngồi lại với nhau để trao đổi về các dự thảo ấy, khác nào ném nhiều hòn đá xuống biển đều mất tăm.

    Một việc quan trọng khác: nhận thức về trách nhiệm chỉ đạo một CTQG về CNTT cho đến nay vẫn còn chưa thật rõ ràng tại Việt Nam. CNTT là một lĩnh vực liên ngành, phải có sự tham gia đồng bộ của tất cả các Bộ, ngành và địa phương nên cần một vị lãnh đạo cấp cao nhất trong Chính Phủ trực tiếp chỉ đạo. Thí dụ Thái Lan trao trách nhiệm chỉ đạo CNTT cho phó thủ tướng, còn tại Malaysia là thủ tướng, Philippines là tổng thống...
    Trong khi đó, tại Việt Nam, Ban Chỉ Đạo CTQG về CNTT đã nhiều lần đề nghị Thủ Tướng hay một Phó Thủ Tướng làm Trưởng Ban Chỉ Đạo để ở cương vị đó có tầm nhìn chung, điều hành phối hợp tất cả các Bộ, ngành và tập hợp trí tuệ chung. Nhưng đến nay, đứng đầu các Ban Chỉ Đạo về CNTT ở cấp quốc gia của ta vẫn chỉ là bộ trưởng Bộ KHCN&MT. Nói cách khác, lãnh đạo cấp cao nhất vẫn đứng ngoài. Như thế, có thể hiểu rằng: Phải chăng ở Việt Nam, CNTT chưa phải đến mức quan trọng cần một vị lãnh đạo Chính Phủ trực tiếp phụ trách nên mọi người cứ 'yên tâm', làm được đến đâu thì làm?

    Phải đề xuất đúng, tư vấn đúng vì lợi ích quốc gia_


    TS Nguyễn Công Hoá
    Với tư cách nguyên phó Văn Phòng Ban Chỉ Đạo CTQG về CNTT, TS Nguyễn Công Hoá đã thẳng thắn nói vậy khi trao đổi với Thế Giới Vi Tính về những bài học của giai đoạn 1996 - 1998
    Trước đánh giá về sự 'không thành công' của quá trình tin học hoá quản lý nhà nước giai đoạn 1996 - 1998, tiến sĩ quan tâm đến những bài học nào nhất từ CTQG về CNTT?
    TS Nguyễn Công Hoá: Những tài liệu pháp lý, tài liệu chuyên môn cùng các báo cáo tổng kết của các Bộ, ngành, địa phương thực hiện CTQG về CNTT hiện còn lưu cả trên kho dữ liệu ITNet đặt tại Văn Phòng Chính Phủ. Tranh cãi về việc thành công hay không thành công là không cần thiết. Điều cần tập trung, đúng như Thế Giới Vi Tính đặt ra, chính là làm sao rút ra những bài học để giai đoạn tới làm thật tốt, không vấp phải những sai lầm của giai đoạn cũ, phát huy tốt những gì mà giai đoạn trước đã đạt và làm sao cho hiệu quả hơn. Tôi nghĩ đó cũng là mối quan tâm của các nhà tin học, nhà quản lý và nói chung là của mọi người dân.
    Bài học đầu tiên có thể rút ra là có tiền thì có thể... mua máy móc, có thể kết nối mạng nhanh nhưng tiền không giúp chúng ta đào tạo ngay được con người vì cần có thời gian; và dù có tiền cũng không thể làm ra ngay dữ liệu (cho dù có mời chuyên gia nước ngoài giúp thì họ cũng không thể làm dữ liệu thay ta).
    Tuy vậy, có lẽ bài học quan trọng nhất chính là phải tạo ra hành lang pháp lý cho tin học hoá, cho ứng dụng và phát triển CNTT. Tiếc là Tiểu Ban Chính Sách thuộc CTQG về CNTT lại nghiêng về các chính sách vi mô (về thuế, về chính sách cho xí nghiệp, doanh nghiệp) hơn là vĩ mô. Lẽ ra, nên có hẳn một Tiểu Ban Nghiên Cứu Xây Dựng Khung Hành Lang Pháp Lý về CNTT. Nếu làm được như vậy thì ít ra đến nay khi Hiệp Định Thương Mại Việt - Mỹ được thông qua, chúng ta không đến nỗi phải vừa thực hiện các luật về CNTT của Mỹ ở Việt Nam, lại vừa không có luật tương ứng của ta ngay trên đất của ta...

    Đây là một ý mới nếu so với các bài học được đăng rải rác trong các văn bản khác nhau khi đề cập đến giai đoạn 1996 - 1998. Tuy vậy, có một điều chúng tôi vẫn thắc mắc: vì sao mãi tới nay dường như vẫn chưa có đánh giá mang tính hệ thống nào đối với CTQG về CNTT? Tiến sĩ nghĩ sao khi có quan chức 'khuyến cáo' chúng tôi rằng việc đánh giá CTQG về CNTT đã có kết luận, không nên... 'bới lại'?
    Chính Phủ đã có đánh giá chính thức về CTQG về CNTT qua thông báo ý kiến của Phó Thủ Tướng Phạm Gia Khiêm mà Thế Giới Vi Tính có trích đăng trong số này. Tuy vậy, cũng cần có một tổng kết toàn diện để đúc rút bài học kinh nghiệm cho giai đoạn tới, với sự tham gia của các Ban Chỉ Đạo, các Ban Quản Lý Dự Án của Bộ, ngành và địa phương, và cả của đại diện các doanh nghiệp CNTT chứ không nên chỉ là trong nội bộ một số thành viên Ban Chỉ Đạo và các tiểu ban kỹ thuật.
    'Bới lại' đúng là không cần thiết, nhưng đánh giá giai đoạn qua để rút ra những bài học cho giai đoạn tới ở các góc độ kỹ thuật, quan điểm, giải pháp kỹ thuật, hiệu quả triển khai... quả thật là rất quý báu, nên làm. Hàn Quốc vừa lập Uỷ Ban Quốc Gia Đánh Giá Giai Đoạn 5 năm vừa qua để làm kế hoạch cho giai đoạn 2001-2005. Ủy Ban này ở cấp Chính Phủ, do Thủ Tướng trực tiếp chỉ đạo. Ở ta cũng cần tổ chức đánh giá như vậy.

    Chúng tôi cũng được biết trên diễn đàn kỳ họp th10 của Quốc Hội khoá X mấy ngày qua đã xuất hiện chất vấn của đại biểu Quốc Hội về khả năng lãng phí của các dự án tin học hoá thực hiện riêng rẽ. Tiến sĩ có thể phát biểu về hiện tượng này?
    Hiện đã có tín hiệu cảnh báo về hiện tượng này, vì sau CTQG thì ở giai đoạn mới đã phát sinh nhiều dự án đơn lẻ với mức đầu tư gấp 5-6, hay có thể gấp 10 lần CTQG ngày xưa.
    Cần thấy là lãnh đạo Đảng, Nhà Nước rất quan tâm, sẵn sàng ủng hộ việc ứng dụng và phát triển CNTT nhưng các chuyên gia, các nhà tư vấn phải đề xuất đúng, tư vấn đúng để lãnh đạo cho triển khai vì mục tiêu ích nước lợi dân, vì lợi ích quốc gia chứ không phải lợi ích cục bộ.
    Nếu  để tình trạng phát triển tự phát, phân tán, không theo một chuẩn thống nhất, một chỉ đạo thống nhất thì việc đầu tư về tin học hoá, về ứng dụng và phát triển CNTT sẽ dễ gây lãng phí cho các nguồn vốn đầu tư. Đơn giản vì xét về toán học, các dự án đơn lẻ có thể có những phần giao nhau rất lớn. Ví dụ, giữa tin học hoá công tác quản lý đội ngũ công chức khoảng 1,6-1,8 triệu người sẽ có phần giao với nội dung tin học hoá bảo hiểm xã hội cho 6 triệu người, tạo ra những công việc và kéo theo là kinh phí trùng lặp cho phần giao ấy. Đó là chưa nói đến vấn đề chuẩn. Chẳng hạn bên này lấy 8 số mã, bên kia lấy 4 số mã mà về sau giao diện trao đổi thông tin dữ liệu với nhau sẽ không thực hiện được. Nếu mỗi ngành đều đòi làm một 'đường quốc lộ 1A, 1B' riêng thì sẽ lãng phí ở cấp quốc gia. Vì vậy, rất cần có sự chỉ đạo thống nhất ở cấp cao nhất của Chính Phủ. Theo kinh nghiệm của một số nước trong khu vực, các dự án hiện đang tồn tại độc lập là những dự án nằm dưới sự chỉ đạo thống nhất ấy, theo chuẩn của Hội Đồng Tư Vấn của Chính Phủ.

    Mặt khác, với tư cách là người đã tham gia CTQG ở giai đoạn trước, tôi thấy có nhiều bài học, chẳng hạn:
    · Bài học 'Chỉ thích mua sắm' là không chấp nhận được.
    · Bài học 'Không nên làm dàn trải' của giai đoạn trước nhắc ta phải thống nhất được quan điểm và có mục tiêu rồimới triển khai, thay vì làm dàn trải mỗi thứ một tí để rồi mỗi thứ chỉ có bắt đầu mà không có kết thúc.
    Tin học hoá quản lý hành chính phải hỗ trợ cho cải cách hành chính chứ không phải là làm cho phức tạp thêm ra. Chỉ đạo mỗi nơi lập riêng một Trung Tâm Dữ Liệu, mỗi Bộ, ngành lập một Trung Tâm Tin Học là việc không nên làm. Nếu cải cách hệ thống xử lý thông tin mà không tái cấu trúc hệ thống tổ chức thông tin một cách thích hợp mà lại chỉ đạo mua sắm trang thiết bị hạ tầng cho từng bộ, ngành thì thật lạ. Điều này, tôi và đồng nghiệp đã góp ý kiến với Chính Phủ trong một số tài liệu nghiên cứu.
    Hữu Thiện - Kim Long thực hiện

    Nhiều bài học quý cho những người 'ngây thơ'


           PGS TS Đặng Hữu Đạo

    (Trưởng phòng nghiên cứu hệ thống và quản lý, viện CNTT) với tư cách nguyên trưởng tiểu ban tin học quản lý nhà nước thuộc CTQG về CNTT, tác giả khẳng định ý nghĩa và giá trị lịch sử của chương trình cùng với sự 'ngây thơ'....

    Không thể phủ nhận những bước khởi đầu...
    Thật ra, không thể nói là thành công hay không thành công chỉ bằng một câu đơn giản; và càng không thể lấy cái nhìn hiện nay để đánh giá giai đoạn 1995-1997. Ngày nay, chính chúng tôi nhìn lại thời 1995 cũng thấy có lúc buồn cười sao mà mình 'ngây thơ' thế. Đơn giản vì hồi ấy, ngay những người trong ngành CNTT như chúng tôi cũng chưa bao giờ làm những dự án lớn về CNTT.

    Theo tôi, nhìn lại thì thành tựu cơ bản lớn nhất của CTQG về CNTT là đã đồng loạt đưa được CNTT vào tất cả những Bộ, ngành và các tỉnh, thành; kể cả với các tỉnh miền núi khó khăn dù lúc đầu không có lấy một chuyên viên tin học, nhưng sau cũng quen dần với máy tính và mạng. Khoảng 142 tỷ đồng đầu tư cho các Bộ, ngành và 61 tỉnh, thành trong ba năm 1996-1998 thì không hẳn là nhiều, nên không thể nói là 'lãng phí' so với những gì đã đạt được. Nếu các địa phương không có các mạng cục bộ thì không thể hình thành mạng tin học diện rộng CPNet của Chính Phủ, v.v...
    Nói cách khác, nếu không có những bước khởi đầu thì về sau sẽ không thể có những cái điển hình mà tôi cho là rất hay như Quận 1 ở TP.HCM. Quận đã tin học hoá để đạt tới chế độ dịch vụ một cửa, mọi thứ đều đăng ký qua một ô có đặt sẵn máy tính; thậm chí sau đó người dân còn có thể kiểm tra tiến trình giải quyết hồ sơ của mình qua máy tính đặt tại UBND Quận. Nghe nói Quận 1 hiện đang cố gắng mở cả trang web để người dân có thể ngồi nhà theo dõi trên web hành trình hồ sơ mình đã nộp...

    Tin học hóa không thể chỉ hướng vào... Bên trong
    Ngày đó, luôn có những câu đại loại như tin học hoá hỗ trợ việc ra quyết định, hệ thống thông tin phục vụ lãnh đạo... Gần đây, thế giới nghiêng về xu thế mới phát hiện sau: tin học hoá không phải chỉ hướng vào bên trong cơ quan, mà cố gắng làm sao tin học hoá để cơ quan phục vụ tốt hơn cho người dân, tức là tin học hoá hướng ra phía ngoài, hướng vào các dịch vụ công. Có điều hồi 5-6 năm về trước, chúng tôi chưa nhìn ra vấn đề này.
    Vừa qua, các dự án tin học hoá quản lý nhà nước chủ yếu mới hướng tới việc trợ giúp các quy trình hoạt động trong cơ quan nhằm nâng cao hiệu suất công việc. Trong tương lai, điều quan trọng hơn là tin học hoá phải hướng tới việc tổ chức lại để tạo ra các dịch vụ nhằm phục vụ tốt hơn cho nhân dân.

    Phải nối mạng cộng đồng
    Lúc bấy giờ, mọi người mới chỉ chú ý đến khía cạnh công nghệ của quá trình tin học hoá quản lý nhà nước mà chưa nhận thức đầy đủ rằng đothực chất là quá trình cải biến về mặt tổ chức. Có một vấn đề rất khó mà khi bắt tay thực hiện mới thấy ra: nhiều vị lãnh đạo các cấp tuy lúc nào cũng nói về vai trò của CNTT nhưng đến lúc triển khai lại phó mặc cho giới công nghệ. Vì vậy, khi đưa máy tính, phần mềm vào để xác định quy trình thì quy trình đó lại không được tuân thủ thật nghiêm chỉnh. Đấy rõ ràng là phạm trù tổ chức và con người chứ không còn thuộc phạm vi công nghệ. Phải sau mấy năm lăn lộn với quá trình tin học hoá quản lý nhà nước, chúng tôi mới rút ra được bài học rất bổ ích này.
    Ông Garth Graham, giám đốc Dự Án CNTT Việt Nam-Canada có nói rằng vấn đề 'không phải là nối mạng máy tính mà phải nối mạng cộng đồng'. Đúng vậy, song lâu nay ta không thấy hết rằng mạng máy tính liên kết những con người lại với nhau và làm thay đổi mối quan hệ người với người, thay đổi tổ chức, thay đổi các quan hệ xã hội. Trong mấy năm ấy, thoạt đầu chúng tôi chỉ nghĩ các máy tính phải nối mạng và có thông tin trên mạng để trao đổi với nhau; chưa nghĩ sâu xa rằng mạng sẽ làm thay đổi con người. Cũng vì vậy, nhiều nơi dẫu đã có các máy tính kết nối với nhau song người ta vẫn không quan tâm đến việc có hay không có thông tin chạy trên mạng. Cái khó của vấn đề chính là ở chỗ con người (cán bộ, công chức) có quan tâm sử dụng cái  mạng máy tính ấy trong mối liên kết con người với tổ chức hay không.

    Và bài học về những vấn đề.... Phi công nghệ
    Có một thời, chúng tôi vẫn thường gặp cảnh này khi về các địa phương trợ giúp cho các dự án tin học hoá: cài đặt chương trình xong, hôm sau quay lại mở chương trình ra thì vẫn thấy thế, không ai vào thêm dữ liệu nào. Có hàng loạt nguyên nhân của việc ấy. Ví dụ ông thủ trưởng đơn vị nói rất quyết tâm tin học hoá nhưng lại không quan tâm mở máy tính ra xem; còn nhân viên thì cười nói 'ăn cái gì mà nhập dữ liệu vào, không có kinh phí làm thông tin điện tử' (!) (Mãi về sau, Bộ Tài Chính mới duyệt chế độ vài ngàn đồng để nhập một trang tin điện tử).
    280 tỷ đồng đã bỏ ra trong gần ba năm 1996-1998 chủ yếu liên quan đến mặt công nghệ và công nghệ ấy đã mang lại nhiều bài học rất quý để giúp chúng ta nhận thức được những mặt tồn tại, yếu kém để khắc phục. Trong những bài học ấy, có cả câu chuyện về những vấn đề phi công nghệ đã tác động không thuận lợi đến việc tin học hoá.
    Kỷ luật hành chính của chúng ta rất kém, chế độ báo cáo truyền thống trên giấy còn không được tuân thủ thì nói chi đến báo cáo trên mạng với yêu cầu cấu trúc dữ liệu chặt chẽ, không phải ai cũng có thể thích ứng ngay được. Ở ta, nói bao giờ cũng nhanh nhưng làm, đặc biệt là về chính sách thì bao giờ cũng chậm. Như có mạng CPNet nhưng lại chẳng có luật nào buộc các cơ quan hành chính phải truyền tin trên mạng. Những chính sách đồng bộ nhằm thúc đẩy việc ứng dụng và khai thác CNTT trong hoạt động quản lý còn rất thiếu. Tôi cho rằng những khó khăn về chính sách lớn hơn rất nhiều so với những khó khăn về công nghệ, nếu cứ tình trạng này thì sự trì trệ chắc chắn còn kéo dài.
    Ngoài ra, thói quen và văn hoá cũng là yếu tố níu kéo đối với bất kỳ một sự cải cách nào. CNTT vốn là sản phẩm của nền văn hoá nhấn mạnh sự cấp tiến, hiệu quả, bình đẳng, và rõ ràng. Trong khi đó nền văn hoá phương Đông của chúng ta lại thiên về sự tôn trọng cấp bậc, mối quan hệ, sự an toàn và cách thể hiện ẩn dụ. Việc áp dụng CNTT vào một nền văn hoá như văn hoá nước ta thường

    Chưa vượt được 'Cái chết hệ thống'


            TS Nguyễn Trọng

    Đến đây, bạn đọc hẳn muốn biết ý kiến chính thức của Thế Giới Vi Tính về việc Dự Án Tin Học Hoá Quản Lý Nhà Nước 1996-1998 với đầu tư hơn 150 tỷ có thành công không?
    Bài viết của Tổng Biên Tập Tạp Chí Thế Giới Vi Tính, phân tích một tình huống giả định mô phỏng một kết quả của Dự Án Tin Học Hoá Quản Lý nhà nước giai đoạn nói trên và một tình huống vừa gặp tại TP.HCM. Đó cũng là chính kiến của Tạp Chí về những bài học ứng dụng CNTT trong hoạt động hành chính ở Việt Nam.

    Bài học về... 'Thông xe kỹ thuật' và 'Cái chết hệ thống'
    Dự án ứng dụng CNTT vào hoạt động hành chính 1996-1998, với tên gọi chính thức là Dự Án Tin Học Hoá Quản Lý Nhà Nước, là một bộ phận quan trọng của CTQG về CNTT giai đoạn 1996-2000. Tổng đầu tư cho toàn bộ Chương Trình là 280 tỷ (chứ không phải chỉ riêng cho dự án ứng dụng CNTT vào hoạt động hành chính). Diễn biến và kết quả của toàn CTQG đã có báo cáo của Ban Chỉ Đạo Chương Trình và đã được Chính Phủ phê duyệt. Chỉ trong chưa đầy 4 năm hoạt động thực sự (1996-1999), CTQG đã để lại những 'di sản' rất quan trọng cho sự phát triển CNTT ở nước ta như Internet Việt Nam, 7 Khoa CNTT tại 7 trường đại học trọng điểm, Saigon Software Park ở TP.HCM, v.v...
    Bản tin phát tối 22/11 của VTV1 có lẽ muốn nói về sự không thành công của dự án ứng dụng CNTT vào hoạt động hành chính 1996-1998, một bộ phận quan trọng của CTQG về CNTT giai đoạn 1996-1999 chứ không nói về toàn bộ Chương Trình. Dù sao, việc đánh giá riêng dự án này cũng có ý nghĩa rất quan trọng để hiểu đúng những cái đã qua và chuẩn bị cho việc kế thừa nó khi triển khai thực hiện Quyết Định 112 của Thủ Tướng Chính Phủ mà thực chất là kế thừa và phát triển những gì đã đạt được và khắc phục những gì chưa đạt được của giai đoạn 96-98.

    Như đã nói trên, chương trình đã có những tổng kết chính thức và cũng đã có ý kiến của nhiều người từ nhiều góc độ được phát biểu trong số này của Tạp Chí nhằm trao đổi về 2 vấn đề:
    o Thứ nhất: Những cái được và chưa được của những cố gắng đưa CNTT vào hoạt động hành chính giai đoạn 1996-1998.
    o Thứ hai: Kinh nghiệm cho hôm nay.
    Về 2 ý trên, chúng tôi muốn trình bày suy nghĩ của mình qua phân tích một tình huống giả định mô phỏng một kết quả của Dự Án Tin Học Hoá Quản Lý Nhà Nước giai đoạn 1996-1998 nói trên và một tình huống vừa gặp.
    Có thể nói một kết quả quan trọng của (hoặc đi cùng) Dự Án Tin Học Hoá Quản Lý Nhà Nước giai đoạn 1996-1998 là đã cho ra đời mạng CPNet (mạng tin học diện rộng hành chính của Chính Phủ). Đến các tỉnh, các địa phương ta đều nghe về khả năng tiếp cận các văn bản của Chính Phủ ngay tức thời nhờ mạng này. Các văn bản đó được triển khai hiệu quả ra sao chắc chắn không phải là nhiệm vụ của CPNet, tuy nhiên có một việc quan trọng khi triển khai Dự Án CPNet cần làm thật tốt thì dường như ta chưa làm.

    Câu chuyện là như thế này:
    Ở các quốc gia có kinh nghiệm, khi triển khai Dự Án CPNet người ta sẽ đặt rõ các câu hỏi:
    1. Mục tiêu của CPNet là gì?
    2. Đánh giá hiệu quả CPNet như thế nào?

    Chúng ta cũng làm như vậy. Tuy nhiên, cái khác là việc trả lời những câu hỏi đó. Với câu hỏi 1, giả sử là CPNet chỉ có một mục tiêu làm cho các tỉnh tiếp nhận được tức thời các văn bản của Chính Phủ gửi các tỉnh.

    Mục tiêu như vậy là rất rõ ràng.
    Tuy nhiên, cách đánh giá hiệu quả (tức việc đạt mục tiêu của CPNet) thì có sự khác xa giữa cách ta thường làm và cách các nước có kinh nghiệm ứng dụng CNTT thường làm.

    Cách 1:
    Sau khi thiết lập hệ thống (các phần mềm, máy tính và mạng kết nối cả nước), ta sẽ phát thử một số văn bản từ Chính Phủ trong một khoảng thời gian nào đó và yêu cầu các tỉnh báo ngay ngày giờ (thậm chí tính đến phút) mà tỉnh nhận được văn bản. Sau một thời gian thử nghiệm với nhiều 'kịch bản' khác nhau, có thể đánh giá là CPNet chạy thông, các chương trình và hệ thống thiết bị chạy tốt. Kết luận dự án đã thành công mỹ mãn.
    Chúng ta thường làm cách này, tạm gọi là phương pháp... 'thông xe kỹ thuật'!
    Hệ thống ứng dụng CNTT trong quản lý nói chung và đặc biệt trong quản lý hành chính mà chỉ đánh giá theo phương pháp 'thông xe kỹ thuật' thì hầu như chắc chắn sẽ chết sau một thời gian ngắn. Cái chết đó gọi là 'cái chết hệ thống'. Không phải là máy hỏng, mạng đứt mà là sự quên lãng của đại đa số những người lẽ ra phải gắn với nó. Nếp sống quen thuộc sẽ được tái lập. Cái mạng mới thiết lập như một 'dị thể trong cơ chế hành chính' sẽ bị cơ chế đó đào thải!

    Cách 2: Thường ở nước ngoài, người ta đánh giá hiệu quả ứng dụng CNTT không chỉ dừng ở việc 'thông xe kỹ thuật' mà còn làm thêm 3 việc sau để chống 'cái chết hệ thống':
    Thứ nhất, thiết lập và sau đó là kiểm tra môi trường triển khai ứng dụng CNTT, cụ thể ở đây là CPNet giả định đang bàn tới.
    Thứ hai, kiểm tra tính liên kết của hệ thống ứng dụng CNTT này với các hệ thống khác (có thể là đã ứng dụng CNTT hay chưa ứng dụng, tức còn thủ công).
    Thứ ba, kiểm tra định kỳ trong một thời gian dài các mối nối (những thủ tục hành chính) trực tiếp với hệ thống CPNet giả định đang xét.

    Chúng tôi không đi sâu vào 3 hoạt động tổ chức và đánh giá vừa nêu, song sẽ quay lại các vấn đề chuyên môn này trong dịp khác với hy vọng các chuyên gia hành chính và CNTT dễ dàng hình dung các kịch bản thực hiện 3 loại công việc này.
    Phần lớn các ứng dụng CNTT giai đoạn 96-98 và cả đến hiện nay chỉ dừng lại ở khâu kiểm tra 'thông xe kỹ thuật'. Vì vậy, như tác giả Hoàng Minh Châu đã viết trong bài 'Nhiều dự án ứng dụng CNTT không thành công, tại sao?' (PCW-B, số tháng 12/2001, trang14): Nói rằng các hệ thống đó thành công cơ bản (vì đã 'thông xe kỹ thuật' tốt!) cũng được mà nói thất bại cơ bản (vì hầu như chắc chắn là sẽ mau chóng đi đến 'cái chết hệ thống'!) cũng đúng.
    Sự thành công hay thất bại ở sát cạnh nhau vì nhiều lý do, trong đó sự hiểu biết không thấu đáo là  một trong những lý do chính.

    Bài học về... Sự bất lực của CNTT
    Để làm rõ thêm những đảm bảo cho một ứng dụng CNTT thành công trong hành chính, chúng ta khảo sát một mô hình ứng dụng dự kiến tại Sở Kế Hoạch Đầu Tư TP.HCM vừa được xem xét gần đây. Đó là hệ thống Quản Lý Doanh Nghiệp Sau Đăng Ký Kinh Doanh.
    Hệ thống này gồm 10 phân hệ. Chúng tôi không nêu lại toàn bộ các phân hệ, chỉ phân tích có tính chất thí dụ với 2 trong số 10 phân hệ này:
    Phân hệ 1: Theo dõi tình hình đăng bố cáo của doanh nghiệp sau đăng ký.
    Phân hệ 7: Quản lý báo cáo tài chính hàng năm của doanh nghiệp.
    Qua theo dõi, Sở KHĐT cho biết 71% doanh nghiệp không thực hiện việc đăng bố cáo như luật định (số liệu các doanh nghiệp thành lập trong Quý I năm 2000). Về tình hình báo cáo tài chính, Sở cũng cho biết 75% doanh nghiệp không làm nghĩa vụ này.
    Sở KHĐT đề nghị được triển khai dự án ứng dụng CNTT Quản Lý Doanh Nghiệp Sau Đăng Ký Kinh Doanh với nội dung cơ bản như sau: Sở sẽ thu thập các thông tin về bố cáo thành lập doanh nghiệp (cho phân hệ 1) và các báo cáo tài chính (cho phân hệ 7) và những phân hệ khác, tạo lập các cơ sở dữ liệu và hệ thống quản lý, khai thác các cơ sở dữ liệu này để theo dõi hoạt động của doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh. Sở sẽ công bố trên internet (WebSite TP.HCM) các đơn vị không thực hiện các quy định của Luật Doanh Nghiệp.
    Hệ thống chương trình và hạ tầng kỹ thuật được công ty FPT thiết kế chu đáo, liên kết rất chặt chẽ với hệ thống đăng ký doanh nghiệp đang vận hành tốt.
    Theo báo cáo của Sở KHĐT, Hệ Thống Quản Lý Doanh Nghiệp Sau Đăng Ký Kinh Doanh sẽ nâng cao chất lượn công tác quản lý doanh nghiệp sau đăng ký lên nhiều hơn.
    Hội đồng xét duyệt dự án đã đánh giá là cả 10 phân hệ mà Sở KHĐT trình bày đều nêu rất rõ mục tiêu, các chương trình và hệ thống kỹ thuật đảm bảo cho chúng cũng rõ ràng, và nhất trí với Sở là hệ thống sẽ giúp nâng cao chất lượng công tác quản lý doanh nghiệp sau đăng ký.

    Tuy nhiên, một câu hỏi được đặt ra là:
    Sau khi hệ thống này được chạy thì số các doanh nghiệp không làm báo cáo tài chính hàng năm sẽ là bao nhiêu?
    Nếu không 'lật ngược được tình thế', tức chỉ còn không quá 25% đơn vị không báo cáo (thay vì hiện nay là 75% không báo cáo) thì dù hệ thống có chạy rất trơn tru, thông báo lên mạng intranet, internet thì cũng cần xem xét lại việc đầu tư cho phân hệ này. Với các phân hệ khác, tình hình cũng tương tự.
    Bản thân hệ thống CNTT không thể làm giảm đi 50% số đơn vị không làm báo cáo. Vì vậy, song song với việc đầu tư kỹ thuật và công nghệ cho phân hệ 7 thì Hội Đồng Xét Duyệt đã yêu cầu Sở KHĐT bổ sung các phương án tổ chức để đảm bảo ít nhất 75% các doanh nghiệp phải báo cáo tài chính hàng năm theo quy định. Nếu không làm được như vậy thì cơ sở dữ liệu về báo cáo tài chính được FPT thiết kế rất hiện đại sẽ là... CSDL rỗng (không có số liệu), các chương trình dù chạy thông suốt cũng chẳng mang lại hiệu quả gì.
    Khi chưa có các biện pháp tổ chức chứng minh hiệu quả đo được của hệ thống như Hội Đồng đề nghị thì chưa nên đầu tư cho phân hệ 7 này (và tương tự là các phân hệ khác). Những biện pháp tổ chức cần được kiểm chứng trước khi triển khai hệ thống ứng dụng CNTT. Trong trường hợp cụ thể này thì tốt hơn cả là phải tổ chức để có báo cáo tài chính hàng năm như luật định của ít nhất 60% số các công ty rồi khi đó sẽ triển khai phân hệ 7 này.
       Những biện pháp tổ chức nào phải có để đảm bảo cơ sở dữ liệu báo cáo tài chính doanh nghiệp sẽ là không 'quá rỗng'?
    o    Để làm được điều này, liệu có làm phát sinh các thủ tục mới, tổ chức mới, đầu tư mới... không?
    Nếu không làm rõ các vấn đề này thì hệ thống sẽ là không hiệu quả dù rằng nghe qua thì ít ai phản đối ý kiến cho rằng Hệ Thống Quản Lý Doanh Nghiệp Sau Đăng Ký Kinh Doanh sẽ nâng cao chất lượng công tác quản lý doanh nghiệp sau đăng ký.

    Chúng ta rơi vào cái huyền thoại về  chất lượng quản lý như đã đề cập trong bài ' Ứng dụng CNTT trong các cơ quan hành chính: Hiệu quả phải đo được' trên số 12/2001, trang 20.
    Hiệu quả cần phải được đo và đo được, ở đây đo bằng số phần trăm đơn vị sẽ có báo cáo tài chính năm theo luật doanh nghiệp. Nói cách khác, là đo bằng độ đậm đặc thông tin sẽ có trong cơ sở dữ liệu báo cáo tài chính doanh nghiệp mà phân hệ 7 do Sở KHĐT trình bày chỉ đảm bảo phần công cụ CNTT. Để có được hiệu quả này, rõ ràng CNTT là bất lực vì đây là công việc tổ chức, là các thủ tục hành chính nghiêm ngặt, là các dòng thông tin chảy đều đặn (ngay cả khi không có CNTT). Việc nghiệm thu hệ thống cũng phải dựa trên các tỷ lệ này chứ không phải xem chương trình chạy có trơn tru không, tức không phải chỉ là 'thông xe kỹ thuật'.

    Chúng ta thường hoặc không biết điều này, hoặc cố tình quên nó, hoặc xem thường nó. Và như vậy thì không thể thành công.
    Chúng ta đã và đang có các hệ thống quản lý ứng dụng CNTT thành công. Nhìn chung, đó là các hệ thống với quy trình nghiệp vụ rất chặt chẽ, nhuần nhuyễn. Trong ngồn ngộn những quy trình hành chính của hoạt động quản lý nhà nước thì cái nào là 'rất chặt chẽ', là 'nhuần nhuyễn'? Không chọn được những khâu đó để đưa CNTT vào mà cứ đưa CNTT vào chỗ nào ta muốn thì thất bại là tất yếu. CNTT không tạo nên nề nếp hành chính. CNTT chỉ làm cho quy trình hành chính nề nếp có hiệu quả hơn. Khi hiệu quả tăng gấp bội thì theo quy luật 'lượng đổi, chất đổi', ta sẽ có các thủ tục hành chính mới. Mặt khác, cũng cần hiểu rằng mọi quy trình hành chính hiện nay đều phải tính đến công nghệ cơ bản của nó là CNTT.
    Ứng dụng CNTT trong hoạt động hành chính không chỉ là khoa học CNTT và cũng không chỉ là khoa học hành chính, lại càng không phải sự trộn lẫn 2 thứ theo sự tưởng tượng, suy luận (để làm hỏng cả 2!). Bao nhiêu nghiên cứu về những thành công và những thất bại (đáng buồn là nhiều) của ứng dụng CNTT vào hành chính nói riêng và vào quản trị nói chung ở các nước, đặc biệt các nước mới phát triển còn ít được chú ý.

    Bài học ấy đã phải trả giá đắt suốt trong những năm qua và ở khắp nơi, nhưng cũng phải trả!
    Điều quan trọng là cần được phổ biến rộng rãi và không được phép để lặp lại ở quy mô lớn. Chúng ta đủ tri thức để làm được điều này.
    Câu hỏi cuối cùng mà nhiều người có lẽ vẫn muốn PCW-B nêu lên ý kiến của mình là Dự Án Tin Học Hoá Quản Lý Nhà Nước 1996-1998 với đầu tư hơn 150 tỷ có thành công không và những ngàn tỷ tới đây cho việc này sẽ ra sao?
    Về tổng thể, chúng t6i cho rằng Dự Án 1996-1998 đã thành công ở mức'thông xe kỹ thuật ' như hầu hết các ứng dụng CNTT trong quản lý hành chính nhà nước cho đến nay! chúng tôi chưa nhìn thấy khả năng thật sự để vượt qua 'cái chết hệ thống' của những toan tính hôm nay.

    ID: B0201_6