• Thứ Tư, 07/04/2004 10:51 (GMT+7)

    CNTT Việt Nam: Thị trường phần mềm phát triển tốt

    Trích 'Báo cáo toàn cảnh về công nghệ thông tin (CNTT) Việt Nam 2002' của Hội Tin Học TP.HCM tại Diễn Đàn CNTT Việt Nam vào sáng 25/7/2002 (sử dụng tài liệu chi tiết của PC World VN).

    Đây là năm thứ hai, Hội Tin Học TP.HCM thực hiện báo cáo thường niên này, nhằm cung cấp một cái nhìn toàn diện về tình hình CNTT Việt Nam hàng năm. Mong nhận được các thông tin thêm và ý kiến đóng góp để có được bức tranh đầy đủ hơn về CNTT nước ta.

    Trong các năm 1996-2000, thị trường CNTT tăng trưởng khá tốt, đạt tốc độ tăng trung bình 20-25%/năm và có phát triển nhảy vọt vào năm 2000. Sang năm 2001, tốc độ tăng trưởng có chậm lại:
            Thị trường CNTT Việt Nam qua các năm 
                                                                    (đơn vị: triệu USD)
      1996        1997        1998        1999        2000        2001
        150         180          200          220          300         340
    Nguồn: U.S. & Foreign Commercial Service and U.S. Department of State (1996-2000); PC World VN 2001

    Năm 2001, thị trường CNTT Việt Nam đạt con số 340 triệu USD, với tốc độ tăng trưởng không cao (13%). Điều này đã được 'Báo cáo toàn cảnh CNTT 2000' của Hội Tin Học TP.HCM dự báo, căn cứ vào kim ngạch nhập khẩu trong sáu tháng đầu năm 2001. 

    Theo Tổng Cục Hải Quan, kim ngạch nhập khẩu thiết bị tin học năm 2001 là 230 triệu USD, tăng 12,7% so với năm 2000 (năm 2000 đạt mức tăng trưởng cao nhất là 28%). Con số này cộng thêm nhập phi mậu dịch và giá trị gia tăng, cùng 20% phần mềm/dịch vụ sẽ ra con số tổng thị trường nội địa.

    Sang năm 2002, không có dấu hiệu tăng trưởng nhiều. Quý I năm 2002, kim ngạch nhập khẩu là 59 triệu USD, có tăng so với năm 2001 nhưng không có đột biến (quý I năm 2001 là 53 triệu USD). Sang quý II/2002, kim ngạch nhập khẩu đạt con số gần như quý I/2002 (59 triệu USD so với 56 triệu USD năm 2001), và kim ngạch nhập sáu tháng đầu năm 2002 là 118 triệu USD, chỉ tăng không đáng kể (8%) so với cùng kỳ năm 2001. 

                           Kim ngạch nhập các quý trong năm 2000-2002 
                                                                             (đơn vị: triệu USD)
                Quý                  Q1           Q2           Q3           Q4           Tổng
                Năm 2000          43            49           44            68            204
                Năm 2001          53            56           58            63            230
                Năm 2002          59            59           N/A          N/A           N/A
                                                                     Nguồn: Tổng Cục Hải Quan
    Thị trường nhập khẩu cũng có các dịch chuyển, trong đó ngày càng thể hiện rõ vai trò của Trung Quốc như một quốc gia CNTT đang lên. Đây là nhận định được đưa ra trong 'Báo cáo toàn cảnh CNTT 2001' và tiếp tục được khẳng định trong Báo cáo toàn cảnh năm nay: Năm 2000, kim ngạch nhập khẩu thiết bị Trung Quốc ở vị trí thứ 8, đến năm 2001 đã vươn lên vị trí thứ 5, cùng một tốp với Hongkong và Mỹ; đến quý II/2002 đứng ở vị trí thứ 4, chỉ sau Singapore, Nhật Bản và Đài Loan.

    Nếu tính tổng của sáu tháng đầu năm 2002, bốn nước, lãnh thổ nhập vào Việt Nam nhiều nhất vẫn là Singapore, Nhật Bản, Đài Loan và Malaysia.

    Căn cứ vào số lượng máy nhập nguyên chiếc và linh kiện, Tổng Cục Hải Quan ước tính số máy lắp ráp trong nước trong năm 2001 chiếm gần 80% số máy tính bán ra thị trường (nhập 49.500 máy nguyên chiếc và gần 242.000 màn hình - tương đương với số lượng máy tính lắp ráp). Có thể ước tính số máy tính lắp ráp trong nước chiếm khoảng 75% - 80% và con số này khá ổn định.

    Tổng thị trường CNTT Việt Nam năm 2002 ước tính đạt 340 triệu USD; trong đó phần cứng đạt 280 triệu, còn phần mềm và dịch vụ là 60 triệu USD. Tỷ lệ phần mềm - dịch vụ /tổng chi phí CNTT đạt 21%, tuy tăng 4% so với năm 2000 song vẫn là con số thấp so với tỷ lệ trung bình trên thế giới là 49%. Tỷ lệ thấp này có thể do hai nguyên nhân:

    - Mất cân đối nghiêm trọng giữa đầu tư cho CNTT và đầu tư cho phần mềm/dịch vụ, điều này kèm theo hiệu quả đầu tư CNTT thấp.

    - Tình trạng vi phạm bản quyền cao.

    Theo đánh giá của Business Software Alliance (BSA, www.bsa.org, 5/2002), tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm năm 2001 tại Việt Nam là 94%, tuy giảm 3% so với năm 2000 nhưng vẫn ở vị trí quốc gia có tỷ lệ vi phạm bản quyền lớn nhất thế giới. Việc giảm tỷ lệ vi phạm tại Việt Nam trong bối cảnh tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm của thế giới năm 2001 tăng 3% là một tiến bộ lớn. Giá trị phần mềm bị vi phạm bản quyền ở Việt Nam chỉ chiếm khoảng 0,2% so với giá trị phần mềm bị vi phạm bản quyền trên toàn cầu, và 0,6% so với giá trị vi phạm tại châu Á. 

    Trong thời gian 2001-2002, số máy tính đã qua sử dụng (second hand) nhập về nhiều nhưng chưa có con số thống kê đầy đủ. Nhiều mác máy tính thương hiệu Việt nam đã được lắp ráp và phân phối rộng trên thị trường như CMS, SingPC, Mekong Green, Robo, SingPC, T&H, VinaCom.

    Về thị trường phần mềm và doanh nghiệp phần mềm

    Có thể nêu vài con số:
    Số các đơn vị có đăng ký sản xuất và kinh doanh phần mềm hiện nay rất lớn. Chỉ việc search trên website của Sở Kế Hoạch - Đầu Tư TP.HCM và Sở Kế Hoạch - Đầu Tư Hà Nội, sẽ thấy đến cuối tháng 6/2002, số các đơn vị ở Hà Nội là 613, ở TP.HCM là 1310. Nếu ước tính số đơn vị sản xuất và kinh doanh phần mềm thực sự là 30% thì số đơn vị hoạt động liên quan đến phần mềm hiện nay lên tới trên 600.

    Nếu chỉ tính riêng các đơn vị đăng ký sản xuất phần mềm đang hoạt động thì điều tra mới nhất của tạp chí PC World Việt Nam và Hội Tin Học TP.HCM cho biết số các đơn vị này hiện nay là 313, nếu tính thêm một số đơn vị chưa khai báo thì con số này lên tới 330; trong đó có 50% là các đơn vị phần mềm thành lập mới trong khoảng 2,5 năm trở lại đây (năm 2000, 2001 và nửa đầu năm 2002). Điều này chứng tỏ thị trường phần mềm phát triển tốt, các chính sách biện pháp của Nhà Nước đã phát huy hiệu lực.

    Số nhân viên trung bình của một đơn vị phần mềm là 20 người. Số lượng chuyên viên tham gia vào ngành công nghiệp phần mềm ở Việt Nam hiện nay vào khoảng 6.500 người.

    Tính toán năng suất lập trình viên là một việc khó. Nhiều đơn vị phần mềm không cung cấp số liệu, còn một số đơn vị hoạt động trong nhiều lĩnh vực nên không dễ tách được doanh số và số lượng người làm phần mềm.
                                                Số lượng đơn vị phần mềm - Dịch vụ (1996-2002)
                                            1996    1997    1998   1999    2000      2001     2002      2002
                                                                                                         (nửa năm)  (ước tính)
    Số công ty (cuối kỳ)              95      115      140    170       229        304       328      370
    Số công ty tăng trong kỳ         9         20       25      30         59         75         24        71
    Số người làm phần mềm     1900    2300     2800   3400   4580     6080      6560      7400

    Căn cứ vào số liệu của 26 đơn vị chỉ hoạt động trong lĩnh vực sản xuất phần mềm mà không hoạt động trong lĩnh vực khác và có số liệu về doanh số, tổng số 1.040 người của các đơn vị này làm trong năm 2001 được 8,8 triệu USD, tương đương với năng suất 8450 USD/người/năm, tăng 30% so với năm 2000. Đó là một tiến bộ rất lớn, có thể giải thích bởi việc các công ty phần mềm nhỏ, mới thành lập dễ đạt năng suất cao; trong khi các công ty phần mềm mới lớn đã có tiến bộ đáng kể trong việc tổ chức thực hiện dự án và có nguồn việc tốt; các đơn vị làm phần mềm ký được các hợp đồng tốt và hệ số tái sử dụng (reuse) được cải thiện.

    Năng suất của các công ty phần mềm làm gia công cho nước ngoài cao hơn, năm nay đạt khoảng 13.000 USD/người/năm, tăng 18% so với 11.000 USD năm 2000.

    Đánh giá chung:
    Nghị Quyết 07 và Chỉ Thị 128 của Chính Phủ về xây dựng ngành công nghiệp phần mềm và ưu đãi cho doanh nghiệp phần mềm đã bước đầu tạo được sự tăng trưởng tốt về số doanh nghiệp và số nhân lực làm phần mềm.

    o  Năng suất phần mềm tăng nhưng vẫn chưa cao.

    Năm 2001-2002, số các khu phần mềm tập trung được tăng lên nhanh chóng. Ngoài hai khu phần mềm tập trung SSP (123 Trương Định) và Quang Trung tại TP.HCM, các khu phần mềm khác thuộc Đại Học Quốc Gia, REE (TP.HCM), Cần Thơ, Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế, Hà Nội cũng đã và đang được đưa vào hoạt động. Lực lượng các công ty phần mềm liên kết với nước ngoài do nước ngoài đầu tư thực sự đã chiếm một vị trí quan trọng trong đội hình làm phần mềm Việt Nam, có nguồn việc ổn định và năng suất cao. Trong năm 2002, nhiều đơn vị phần mềm Việt Nam cũng xây dựng và nhận chứng nhận chất lượng ISO 9000. Tháng 3/2002, FPTSoft đã nhận chứng chỉ CMM mức 4/5, trở thành đơn vị  phần mềm đầu tiên triển khai thành công CMM ở mức cao.

    TS Lê Trường Tùng
    Chủ tịch Hội Tin Học TP.HCM

    ID: B0208_10