• Thứ Tư, 21/04/2004 11:23 (GMT+7)

    Xôn xao mùa tuyển sinh

    Bước đột phá cải cách tuyển sinh năm 2002 là nỗ lực phi thường, quyết đoán táo bạo của Bộ  Giáo Dục và Đào Tạo, đồng thời cũng thể hiện quyết tâm cao của Bộ  trong việc ứng dụng CNTT vào lĩnh vực dịch vụ công, theo tinh thần Chỉ Thị 58 của Bộ Chính Trị. Diễn biến đầy kịch tính vừa qua đã gây xôn xao dư luận, lúc khen lúc chê trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đôi lúc, đôi nơi xuất hiện những ý kiến thiếu khách quan, chưa đi vào bản chất của vấn đề, gây cản trở cái mới, cái tiến bộ vừa nhen nhúm. Bài viết này muốn đi tìm lời giải đáp cho những sự kiện có vẻ rối rắm của mùa tuyển sinh 2002

    Những cái được nhãn tiền của cải cách

    Chúng ta không thể phủ nhận việc thực hiện giải pháp "3 chung" (chung đề, chung đợt, chung xử lý kết quả) đã đem lại hiệu quả rõ rệt về kinh tế và công bằng xã hội. Đề thi được các trường đại học (ĐH), các nhà khoa học, nhà giáo, phụ huynh và thí sinh thừa nhận đảm bảo tính khoa học, chính xác, chặt chẽ, hoàn toàn nằm trong chương trình, bám sát kiến thức cơ bản và khả năng vận dụng, kỹ năng thực hành của học sinh trung học phổ thông (THPT). Không bị lặp lại tình trạng đề thi quá khó, nội dung lắt léo mang tính đánh đố thí sinh học nghiêm túc, có lợi cho thí sinh học tủ và các lò luyện thi cấp tốc. Từ đó, kỳ thi tuyển sinh 2002 đã thiết lập sự công bằng xã hội cho các thí sinh nghèo ở vùng xa, vùng sâu với các thí sinh ở thành phố hoặc gia đình khá giả. Báo Tiền Phong ra ngày thứ hai 23/9/2002 đăng tin: Đại Học Bách Khoa Hà Nội đã khai giảng cho 4400 sinh viên mới tuyển, trong đó 80% đến từ nông thôn với điểm tuyển là 21 cho khối A và 27 cho khối D! Một con số thật ấn tượng.

    Nhờ chủ trương "3 chung" nên đã giảm được khoảng 800.000 lượt đăng ký dự thi và 600.000 lượt thi. Với hai cụm thi thí điểm tại Vinh và Cần Thơ, đã giảm được khoảng 170.000 lượt người không phải về Hà Nội và TP. HCM dự thi. Con số 500 tỷ đồng tiết kiệm được cho xã hội nói chung và người dân nói riêng mà Bộ GD&ĐT nêu trong báo cáo tổng kết ngày 20/8/2002 có thể thẩm định được bằng khái toán (170.000 lượt người x 1 triệu = 170 tỷ và 600.000 lượt người x 500 ngàn = 300 tỷ...).

    Cái được vô giá cho sự phát triển của CNTT nước nhà là đã khuấy động toàn xã hội biết đến và quan tâm đến internet, mạng Edunet. Người nông dân ở vùng xa, vùng sâu cũng hăm hở truy tìm thông tin về đáp án và hướng dẫn chấm các môn thi, rồi đến kết quả thi trên mạng. Trang web của Bộ và của công ty VDC có lúc bị nghẹt đường, thúc đẩy ngành Bưu Chính - Viễn Thông hoàn thiện cơ sở hạ tầng viễn thông quốc gia. Mặt khác, qua đợt tuyển sinh này ngành Bưu Chính - Viễn Thông cũng đã kiếm được doanh thu không nhỏ nhờ cước phí điện thoại và cước phí truy cập internet. Chưa bao giờ bảng web của Bộ GD&ĐT lại sôi động và các e-mail của Ban Chỉ Đạo Tuyển Sinh lại đầy ắp thư công dân như hai tháng qua (hơn 1500 thư). Các quán cafe internet cũng nhộn nhịp khác thường trong dịp này. Đó chính là nối mạng cộng đồng, là hiệu ứng phát xạ của một loại hình dịch vụ công rất đáng khích lệ, đáng để các cơ quan công quyền, các ngành kinh tế và tổ chức xã hội noi theo.

    CNTT làm được gì cho tuyển sinh năm nay?

    Từ nhiều năm nay, việc tuyển sinh tại các trường đã được tin học hoá: phần mềm tuyển sinh xử lí toàn bộ các hồ sơ, lên điểm, xếp phòng, xét trúng tuyển.

    Tuy nhiên điều khác biệt là năm nay, với chủ trương "3 chung" bài toán tuyển sinh đã trở nên rất phức tạp vì có sự ràng buộc trách nhiệm giữa các trường với nhau.

    Chung đề và chung đợt thi: Đề thi được mã hoá bảo toàn định dạng và mã hoá bảo mật. Sau đó đề thi đã được ghi vào đĩa CD và chuyển đến các điểm in đề trên toàn quốc. Chỉ một nơi lộ đề sẽ kéo theo toàn bộ cuộc thi thất bại.

      Sử dụng chung kết quả để xét tuyển: Đây là chỗ phức tạp nhất của bài toán tuyển sinh năm nay và không dễ giải. Cả nước có khoảng 100 đơn vị tổ chức thi nên phát sinh khoảng 5000 mối quan hệ tay đôi giữa các đơn vị này (100 x (100-1)/2). Thêm nữa nhiều trường tuyển theo ngành (có trường có tới 40 ngành) nên lại càng phát sinh ra các mối quan hệ thứ cấp phức tạp, mỗi ngành trở thành như một đơn vị xét tuyển riêng. Một hiệu ứng đặc biệt xảy ra: một trường thay đổi điểm tuyển sẽ gây phản ứng dây chuyền tới các trường còn lại thông qua các thí sinh đăng kí NV2 và NV3 (nguyện vọng).  Phi CNTT thì không thể giải quyết được bài toán này. Vì vậy, như đã thấy qua tivi, chúng ta hoàn toàn đồng cảm với sự làm việc nghiêm túc và vất vả song cũng rất hoành tráng vừa qua của Bộ GD-ĐT trong việc tổ chức phiên giao dịch dữ liệu tại Hà Nội trong 4 ngày (từ 18/8 đến 21/8), được mọi người ví như là "phiên giao dịch chứng khoán". 

    Công khai hóa cả đáp án, hướng dẫn chấm và kết quả thi trên Internet: Đã làm cho cuộc thi nghiêm túc hơn, xã hội tin tưởng hơn. Việc công bố cả hướng dẫn chấm là một sự đổi mới tư duy mạnh bạo của Bộ. Nhiều thí sinh khoe đã tự chấm và chỉ lệch khoảng 0,5 điểm so với kết quả được công bố.

    •  Và vào phút chót, nhờ CNTT, xuất hiện một sản phẩm ngoài dự kiến: Trung Tâm CNTT của Bộ GD&ĐT (TT CNTT) đã tổng hợp dữ liệu của tất cả hơn 820 ngàn thí sinh để cho ra các biểu đồ phân bố kết quả điểm thi theo quốc gia, theo khối A, B, C, D, theo tỉnh - thành phố, theo trường đại học. Những thông tin quí giá đó sẽ giúp cho các nhà quản lí giáo dục, các nhà lãnh đạo nhìn thấy thực trạng về chất lượng thí sinh dự thi, chất lượng giáo dục phổ thông trong toàn quốc.

    Và những tồn tại của việc ứng dụng CNTT

    Trong quá trình ứng dụng CNTT vào công tác tuyển sinh, nhất là trong quá trình tập trung dữ liệu, xử lí nguyện vọng, có vài trục trặc kĩ thuật lẽ ra không đáng có. Đó là do các trường đã không dùng chung phần mềm tuyển sinh của Bộ, lại không tôn trọng qui định chung của Bộ về cấu trúc dữ liệu nên dữ liệu truyền không đồng bộ. Đây là hệ quả của sự tuỳ tiện theo lề lối làm việc thủ công, thiếu kỉ luật và tính cộng đồng của người sử dụng CNTT, thiếu chút nữa đã gây tai hoạ, làm phá sản kì tuyển sinh "3 chung" này. May mà trở ngại đã được khắc phục nhanh chóng tại Hội Nghị Xử Lí Kết Quả Thi khi lãnh đạo Bộ cùng TT CNTT đã ra một  quyết định được đánh giá như là "kéo pháo ra khỏi Điện Biên": xoá hết kết quả dữ liệu cũ mà các trường gửi đến, thống nhất làm lại từ đầu với những qui định chặt chẽ hơn về nội dung và cấu trúc dữ liệu. Thật kì diệu: 15 phút sau, các trường đã nộp lại dữ liệu theo đúng quy định. Một bài học đắt giá về ý thức sử dụng CNTT.

    Việc xử lí  NV1, NV2, NV3 cũng cho thấy, phần mềm xử lí tự động của Trung Tâm CNTT đã không phát huy được tác dụng do dữ liệu đầu vào không đủ và không chuẩn. Ông Quách Tuấn Ngọc, giám đốc TT CNTT  vẫn còn tiếc rẻ: "Nếu hôm đó cho đầy đủ dữ liệu với cả số báo danh, họ và tên... thì hệ thống phần mềm này có thể cho ra đáp số chính xác đến từng thí sinh của các trường. Không phải mất công trao đổi lại dữ liệu sau khi đã định điểm tuyển". Cũng xin nói rõ, theo qui chế, để cho khách quan, các trường không được ráp phách khi chưa định xong điểm tuyển. Việc xét tuyển bằng phương án tách bóc dữ liệu NV2, NV3 riêng ra đã ít nhiều tạo ra các thí sinh ảo.

    Việc nghẽn mạch truy cập Internet trong ngày đầu công bố điểm trên mạng tuy nhận được sự thông cảm của xã hội về việc trong cùng một lúc, tất cả thí sinh đều háo hức truy cập vào thì không mạng nào chịu nổi, song điều này cũng cho thấy hạ tầng Internet còn có vấn đề.  Rồi còn lỗ hổng bảo mật của hệ thống trong mấy ngày đầu. Tuy lỗi này đã được khắc phục song cũng không thể biện minh được cho sự thiếu cẩn trọng của các nhà chuyên nghiệp.

    Điều cuối cùng, quy chế tuyển sinh với 80% NV1, 20% còn lại cho NV2, NV3 gây không ít băn khoăn. Quy chế này, với sự giúp sức của CNTT hiện đại, đã được kiểm nghiệm qua bài toán mô hình hóa công tác tuyển sinh? Phải chăng những rắc rối nảy sinh ở giai đoạn sau đã không được tiên liệu? Lỗi này có phải của của hệ thống tính toán?

    Đi tìm lời giải đáp cho những rối rắm tuyển sinh 2002

    Cũng dễ hiểu khi mọi sự phức tạp nảy sinh diễn ra khi xử lý NV2, NV3 và NV bổ sung của thí sinh, từ đó đã gây nên sự bấn loạn của đông đảo thí sinh và gia đình họ, sự ì xèo của công luận dẫn đến một vài cách nhìn thiên lệch. Có người đặt câu hỏi: "Tiết kiệm được 500 tỷ rồi lại đẻ ra chi phí tốn kém khác của người dân đi chen chúc, chờ đợi đăng ký NV bổ sung hết trường này trường nọ hỏi có ích gì?" (Báo Tuổi Trẻ 19/9/2002). Có người đổ lỗi cho việc thí sinh đạt điểm cao bị rớt còn thí sinh điểm kém lại được vào trường ĐH - CĐ, là do dữ liệu chệch choạc của CNTT (Báo Thanh Niên, Tuổi Trẻ, Người Lao Động)... Tôi không tin như vậy và quyết đi tìm lời giải đáp.

    9h00 sáng ngày 21/9/2002 tôi đến TT CNTT, xin phép TS Quách Tuấn Ngọc vào máy, lên mạng để tìm kiếm sự thật. Những số liệu về kết quả thi của 823.402 lượt thí sinh dự thi làm tôi phải suy ngẫm (các số liệu điểm thi ở đây đều được tính là tổng điểm của 3 môn, không tính điểm thưởng, điểm ưu tiên đối tượng và khu vực):

    •  Thủ khoa chỉ có 3 em (29,5 điểm), á thủ khoa 11 em (29 điểm), còn cuối bảng: 125 em "đạt" điểm 0 (không) và 8411 em nửa điểm, 14.658 em điểm 1 cho cả 3 môn thi!

    •  Với chỉ tiêu Nhà Nước giao là 168.000, nếu lấy từ trên xuống thì điểm tuyển sẽ dừng ở đúng con số 13, tương ứng với 168.991 thí sinh.

    Biểu đồ kết quả thi năm 2002 có đỉnh cộng hưởng ở điểm "4/30" và độ chụm các kết quả nằm ở đoạn 2-6/30 điểm. Điểm trung bình theo xác suất thống kê của mùa tuyển sinh năm nay là 8,4/30.


    "CNTT là một công cụ sắc bén nhưng nhiều đơn vị đã không biết dùng, không tôn trọng quy định dùng CNTT, không biết tận dụng hết khả năng của CNTT, nên có thể nói đó là hiện tượng không biết dùng dao nên đứt tay lại đổ tại dao sắc".
    Ông Quách Tuấn Ngọc, giám đốc TT CNTT, Bộ GD&ĐT

     

    Rõ ràng nhờ CNTT xử lí dữ liệu của tất cả mọi thí sinh, chúng ta có dịp nhìn một cách tổng quan và chính xác chất lượng khá thấp của học sinh tốt nghiệp THPT đi thi. Song các thí sinh lại không tự đánh giá mình, đổ xô đi thi và ghi cả 3 NV vào các trường ĐH lớn hoặc các ngành mũi nhọn... Nghịch lý còn ở chỗ có thí sinh thi đạt 24-25 điểm (có cộng điểm ưu tiên) lại vẫn rớt do thí sinh chọn cả 3 NV đều là trường thuộc tốp trên. Trong khi đó có trường dân lập đề nghị lấy điểm tuyển chỉ ở mức 4-5 điểm. Vì vậy Bộ GD&ĐT đã đề ra chủ trương xét tuyển bổ sung nhằm tạo cơ hội cho các em đạt điểm cao song vẫn trượt cả 3 NV và cũng là để giữ chất lượng đầu vào cho các trường. Nếu lấy điểm sàn chỉ là 10 điểm thì tổng số thí sinh sẽ là 266.869. Từ đây dẫn đến một sự thật hiển nhiên là cảnh thí sinh chen chúc nhau để đăng kí bổ sung vì số lượng thí sinh trên mức sàn quá lớn, trong khi chỉ tiêu xét tuyển bổ sung chỉ có khoảng 16 ngàn. Vì vậy một điều thấy rõ là cần tránh chủ trương đặt điểm sàn quá thấp để nhắm mắt tuyển cho đủ chỉ tiêu, bất cần chất lượng đầu vào thấp đến mức nào. Đó là nguyên nhân chính, chứ đâu phải tại "3 chung", đâu phải tại dữ liệu của CNTT như nhiều tờ báo đã nêu.

    Trong những ngày gần đây, khi dư luận đưa tin về sự rối rắm trong xét tuyển NV, chúng ta không thể không khẳng định sự thành công của kì thi: gần 90% chỉ tiêu thí sinh đã được xét trúng tuyển và hầu hết các trường đã tổ chức khai giảng cho năm thứ nhất. Đó chính là thành công của việc xét tuyển NV1, 2, 3.

    Lời nhắn nhủ cho mùa sau

    Thực hiện "3 chung" với sự hỗ trợ đắc lực của CNTT là bước đi cải cách đúng hướng, hợp quy luật. Để những điều rối rắm trong mùa tuyển sinh này không xảy ra vào mùa sau, cần thiết phải làm được mấy điều:

      Về lâu dài, cần tìm các biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học ở cấp THPT và kỳ thi tú tài. Tổ chức tốt việc tuyên truyền phân luồng thí sinh để những em đạt lượng sức mình dưới mức điểm 8/30 yên tâm đi học nghề, học trung học chuyên nghiệp, xã hội đỡ tốn kém rất nhiều (thêm 500 tỉ nữa).

      Trong chính sách tuyển sinh lấy chuẩn chất lượng đầu vào hợp lý, không "cố đấm ăn xôi" hoàn thành chỉ tiêu, sẵn sàng chấp nhận có trường hụt chỉ tiêu. Xã hội, cụ thể là thí sinh và phụ huynh nên tự lượng sức học, năng lực thật sự, trước khi quyết định ghi các nguyện vọng.

      Không nên xét tuyển theo ngành vì như vậy chất lượng đầu vào sẽ không cao, có độ chênh lớn giữa điểm tuyển của các ngành, làm cho bài toán xét tuyển NV lại càng trở nên phức tạp, cơ hội vào ĐH của các thí sinh đạt điểm cao sẽ càng thu hẹp hơn.

    Và quyết tâm cải cách tuyển sinh bằng CNTT

    Với quyết tâm tiếp tục cải cách tuyển sinh một cách triệt để, bộ trưởng Nguyễn Minh Hiển đã trực tiếp chỉ thị cho Trung Tâm CNTT, Bộ GD&ĐT xây dựng đề án "Ứng dụng CNTT  hỗ trợ cải cách thi tuyển sinh 2003" xong trong tháng 9/2002 để chuẩn bị cho mùa thi sau. Ông Quách Tuấn Ngọc cho biết, ngoài những việc làm đã khẳng định sự thành công (bảo mật đề thi, công khai đáp án và hướng dẫn chấm, kết quả thi trên mạng internet...), thì những nét mới cơ bản sẽ được thực hiện như sau:

      Cải cách việc đăng kí tuyển sinh: Nối mạng về các trường THPT, đưa phần mềm đăng kí dự thi, hướng dẫn đăng kí dự thi với mẫu đăng kí dự thi mới về đến tận trường THPT. Cách làm này sẽ tránh được nhiều sai sót trong đăng kí dự thi, tránh được thí sinh ảo (chiếm 30% số lượng đăng kí dự thi năm nay). Sau đó kết nối mạng để tổng hợp dữ liệu. Kết quả thi cũng sẽ được báo thẳng thêm về trường THPT, giúp cho thí sinh biết kết quả nhanh nhất, chắc chắn nhất.

    •  Thống nhất dùng một phần mềm tuyển sinh để dễ đồng bộ dữ liệu, nhất là lúc xét tuyển nguyện vọng.

      Tăng cường biên chế cán bộ cơ hữu về CNTT cho các phòng đào tạo. Tăng cường tính kỉ luật, tính cộng đồng trong sử dụng CNTT cho đội ngũ cán bộ này.

      Tăng cường đầu tư hạ tầng CNTT, hạ tầng mạng cho các trường THPT lẫn ĐH và CĐ.

    Chúng tôi mong rằng dư luận chớ vì một vài sai sót cục bộ trong cải cách vừa rồi mà hạ thấp, công kích hoặc cản đường công cuộc cải cách tuyển sinh nói riêng và giáo dục nói chung với sự hỗ trợ đắc lực của CNTT.

    Vũ Ngọc Tiến, Ngô Hà Trung

     

    ID: B0210_18