• Thứ Ba, 20/04/2004 08:59 (GMT+7)

    Chuẩn nào cho cơ sở dữ liệu Y Tế?

    Phỏng vấn bác sĩ Lê Trường Giang, phó giám đốc Sở Y Tế TP.HCM về việc ứng dụng CNTT trong quản lý ngành Y Tế.

    Phỏng vấn bác sĩ  Lê Trường Giang, phó giám đốc Sở Y Tế TP.HCM về việc ứng dụng CNTT trong quản lý ngành Y Tế


    Bác sĩ Lê Trường Giang:'Mã bệnh nhân là điều kiện tiên quyết của sự thành công trong quản lý CSDL Y Tế'

    Bác Sĩ nghĩ gì về xu hướng đơn giản hoá nhiệm vụ Tin Học Hoá ngành Y Tế vào mỗi việc thực hiện quản lý hành chính nhà nước theo Quyết Định 112/2001/QĐ-TTg?

    - Bác sĩ Lê Trường Giang: Tất nhiên, việc quản lý các trang thiết bị, tài chính, con người... trong ngành là việc phải thực hiện chặt chẽ và ngành Y Tế cũng phải tiến hành tin học hoá quản lý hành chánh theo Quyết Định 112 của Thủ Tướng Chính Phủ. Đặc biệt, xu hướng tiến đến một nền hành chính điện tử từ Văn Phòng Chính Phủ cho đến các Bộ, ngành, cơ sở là tất yếu và phải đặc biệt quan tâm. Tuy vậy, cần nhìn rõ là cũng phải đưa các ứng dụng CNTT vào những hoạt động đặc thù của ngành Y Tế mà nếu ngành không làm thì sẽ không ai có thể làm thay.

    Cùng làm theo sự phát triển chung của CNTT trong xã hội để đóng góp vào đó và đồng thời tận dụng những phát triển cho việc thành quả CNTT Y Tế, đó là một mặt. Nhưng mặt khác và trước hết, tôi đang nghĩ tới một chuyện: cơ sở dữ liệu (CSDL) mà ngành Y Tế cần quản lý là gì? Chúng tôi cần những loại dữ liệu nào, và làm sao có các dữ liệu đó một cách đúng đắn, đầy đủ, tin cậy, chuẩn xác? Vai trò của CNTT trong quản lý ngành Y Tế được đặt ra: làm gì để thu thập, xử lý và tổ chức khai thác những dữ liệu ấy đã là một bài toán lớn.

    Theo Bác Sĩ, CSDL Y Tế cụ thể là những gì?
    - Nếu có thể nói ngay, thì hầu như ai cũng dễ nghĩ tới tất cả dữ liệu liên quan đến sức khoẻ con người nói chung và từng người nói riêng mà ngành chúng tôi phải quản lý. Ở góc độ đó, cần quản lý thông tin trong hoạt động khám, chữa bệnh ở tất cả cơ sở. Tuy vậy, thật ra đó mới chỉ là một bộ phận trong CSDL Y Tế.

    Hãy thử xét trường hợp một em bé: nhìn ở góc độ vừa nêu, chúng ta sẽ chỉ có thông tin về bé nếu bé bệnh và có đi khám, chữa bệnh. Tuy vậy, dữ liệu cần có thật ra phải là tất cả thông tin về toàn bộ các tác động của ngành Y Tế lên bé: đó phải là một hệ thống dữ liệu về chủng ngừa, về cân đo sức khoẻ hàng tháng, về sự phát triển tâm sinh lý của bé một cách thường kỳ...

    Vấn đề CSDL Y Tế càng phức tạp thêm nếu ta nhìn rõ sức khoẻ con người vốn chịu ảnh hưởng của môi trường xung quanh (địa lý, điều kiện và chất lượng của nước, không khí, khí hậu...; kể cả của những tác động xã hội). Do đó, cần thu thập và xử lý từ những dữ liệu khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ của hệ thống y tế (từ phường xã tới quận huyện và thành phố), cho tới những dữ liệu về môi trường tự nhiên, xã hội có liên quan. Chỉ khi có được một CSDL như vậy, chúng ta mới có cơ sở định ra chính sách và chiến lược chăm sóc sức khoẻ toàn dân...

    Tại Hội thảo khoa học 'Một số vấn đề về Tin Học Y Tế' lần thứ nhất, do Bộ Y Tế tổ chức vào tháng 12/2001 ở Hà Nội, quan điểm chính thống của Bộ cho rằng hơn 30 bệnh viện trong cả nước đã ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện song còn mang 'tính tự phát, thiếu đồng bộ vì các phần mềm không thể ghép nối với nhau, giá thành lại rất cao, gây lãng phí và tốn kém của Nhà Nước'.

    Bác Sĩ nghĩ sao về nhận xét ấy? Xét trên góc độ quản lý ở TP.HCM, giả sử nếu Sở Y Tế không đưa ra được chuẩn cơ sở dữ liệu trong khi các bệnh viện lại chủ động triển khai hệ thông tin quản lý bệnh viện riêng của từng nơi thì Sở có đưa ra một... nhận xét tương tự?

    - Nếu tất cả cơ sở cứ ngồi chờ cấp trên thì có lẽ sẽ không bao giờ có được chuẩn CSDL. Nhưng nếu cứ để mạnh ai nấy làm, bệnh viện nào cũng có hệ thống nhưng không liên kết, ghép nối được với nhau thì đúng là lãng phí tốn kém. Tuy vậy, nếu cấp trên cứ 'nghĩ đại' ra và ép bên dưới thực hiện mà không xuất phát từ thực tiễn cuộc sống thì liệu chuẩn ấy có thích hợp với mọi đơn vị?

    Cần sòng phẳng chút xíu ở vấn đề này: Bộ nên xử lý hài hoà giữa tập trung và phân tán, tức cấp Bộ nên định ra những gì là nền tảng nhất, để phân cấp quản lý hệ thống CSDL của ngành - cấp Bộ quản lý những dữ liệu nào, cấp tỉnh thành quản lý những dữ liệu nào, và từng đơn vị sẽ triển khai tổ chức hệ CSDL của mình ra sao. Những gì là tập trung, mọi đơn vị buộc phải chấp hành. Song những gì là phân tán thì nên thả cho cơ sở làm...

    Xin lấy một thí dụ về quản lý mã bệnh nhân, điều kiện tiên quyết quyết định sự thành công của việc quản lý CSDL trong ngành Y Tế. Mã bệnh nhân đòi hỏi tính thống nhất và cố định trong từng bệnh viện, và nếu thống nhất trong toàn thành phố thì tốt cho thành phố, thống nhất trong cả nước thì tốt cho cả nước.

    Đối với mã bệnh nhân, có hai vấn đề được đặt ra. Trước hết, tuy thực hiện được mã bệnh nhân thống nhất trong cả nước là rất hay, song chính trình độ dân trí không đồng đều và cả do sự phát triển không đồng đều về CNTT trong cả nước (không đồng bộ về phần cứng, tri thức và kỹ năng của đội ngũ chuyên viên CNTT...) đang là những trở ngại rất lớn. Vì vậy, tôi nghĩ nên để các tỉnh, thành nào có điều kiện thì cứ triển khai mã bệnh nhân theo quy tắc riêng cũng không sao. Bởi sau này, nếu cần thống nhất thì việc lập chương trình máy tính để chuyển đổi giữa hai quy tắc mã bệnh nhân nào đó là điều không khó. 

    Ở đây, vẫn là giá trị của... người đi trước. Kinh nghiệm quản lý mã bệnh nhân tại TP.HCM từ năm 1998 đến nay cho phép chúng tôi biết trước những gì có khả năng xảy ra để hạn chế những tổn thất. Thậm chí thoạt đầu khi triển khai chương trình mã bệnh nhân ở TP.HCM, cũng đã có rất nhiều ý kiến khác nhau nhưng Sở Y Tế vẫn quyết định: Không dám đi, chắc chắn sẽ không bao giờ tới đích. Và tôi tin rằng TP.HCM làm được thì các tỉnh thành khác cũng làm được, thậm chí với công nghệ cao hơn. Khi đó, TP.HCM có thể cống hiến cho các địa phương về kinh nghiệm đi trước của mình.

    Nhựt Minh

    ID: B0204_21