• Thứ Ba, 11/05/2004 09:05 (GMT+7)

    Nhân lực ngành công nghệ thông tin "tinh" hay "đa"?

    Trên các báo Nhân Dân, Thanh Niên, Đại Đoàn Kết, Thể Thao Văn Hóa, Thời Báo Kinh Tế Việt Nam, Sài Gòn Giải Phóng... chúng tôi đã tìm được 12 bài báo từ đầu năm đến nay về đề tài nhân lực cho ngành CNTT. Các bạn đồng nghiệp thường nói về câu chuyện: khoảng cách giữa những con số do Nhà Nước nêu ra (25.000, 50.000 v.v...) và năng lực thực hiện. Có đôi bài về sự dư thừa và sự kém hấp dẫn ngày càng tăng của ngành học này. Tuy nhiên, vẫn còn nguyên một điều rất khó hiểu là:  trong nhiều hội thảo, chúng tôi được nghe những ý kiến khác nhau. Có người cho rằng sản phẩm đào tạo CNTT của ta quá kém, có người cho rằng tương đối kém, lại có người cho rằng thực ra thì các em không kém. Vậy sự thật ra sao?

    Cần khẳng định ngay rằng, không thể nói chỉ cần 'tinh' mà không cần 'đa'. Hiện nay, cả nước có khoảng 23.000 người đang làm việc trong các đơn vị CNTT, riêng lực lượng làm phần mềm có khoảng 5.000 - 6.000. Trong những năm gần đây, mỗi năm có thêm 2.500 - 3.000 người gia nhập đội ngũ CNTT. Con số này còn quá nhỏ cho hình ảnh một ngành công nghiệp. Kế hoạch quốc gia về CNTT nói rằng tới năm 2005 tức trong vòng 3 năm nữa, chúng ta cần 50.000 chuyên viên CNTT, trong đó có tới 25.000 chuyên gia và lập trình viên chuyên nghiệp cho công nghiệp phần mềm. Tuy nhiên, vào thời điểm này, khi đánh giá về nguồn nhân lực CNTT Việt Nam, rất nhiều ý kiến, quan điểm trái ngược nhau:

      Nhân lực CNTT của ta quá mỏng, kém xa cả Philippines, Indonesia, Thái Lan... chứ chưa nói Ấn Độ, Trung Quốc. Trong khi báo cáo của Vụ Đại Học tại hội thảo 'Đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực CNTT' tổ chức tại Hà Nội vào 2/2002 khẳng định: 'Việc đào tạo CNTT đã có nhiều chuyển biến cả về số lượng cũng như về chất lượng, đáp ứng từng bước nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp phát triển CNTT của đất nước'.

    - Sản phẩm đào tạo CNTT của ta quá kém; trong khi cũng có người cho rằng chuyên viên CNTT của ta không thua kém ai!

    v.v...

    Một thực tế là số lượng hồ sơ đăng ký tuyển sinh ngành CNTT vào các trường ĐH, CĐ năm nay so với năm ngoái đã giảm nhiều (nguồn: Báo Giáo Dục&Thời Đại, mạng Edunet 28/9/2002).

    Theo một số chuyên gia: khoảng 50% kỹ sư hoặc cử nhân CNTT ra trường đi vào các ngành không CNTT để làm các ứng dụng CNTT; 5% được bổ sung làm công tác giảng dạy, nghiên cứu; chỉ có khoảng 20% - 25% tham gia vào các đơn vị sản xuất, kinh doanh CNTT; số còn lại làm các việc hoàn toàn không CNTT hoặc không có việc. Điều này về lâu dài sẽ có thể dẫn đến việc khẳng định mục tiêu đào tạo của các khoa chuyên về CNTT ở các đại học của ta khác hẳn với các nước khác. Ở các nước khác thì kỹ sư, cử nhân CNTT là để làm CNTT chuyên nghiệp, tức làm trong ngành CNpCNTT, giảng dạy, nghiên cứu CNTT chứ không phải để làm trong các ngành khác dù là tham gia vào công việc có dùng đến máy tính. Không biết đây có phải một chủ trương sáng tạo của Việt Nam hay chỉ là do tình thế? Tình thế đó là:

    - CNpCNTT quá nhỏ,  không đủ chỗ cho lượng ra trường khá lớn;

    - CNpCNTT đòi hỏi cao mà trình độ ra trường đáp ứng được quá ít.

    Tiếng nói từ phía cung?

    Có thể tạm chia các loại hình đào tạo CNTT hiện nay theo 4 cấp độ khác nhau như trong bảng. Ở loại I, chúng ta có số trường tham gia nhiều nhất hiện nay (120 trường ĐH, CĐ, THCN), hàng năm đào tạo được khoảng 5000 - 6000 chuyên gia tin học ở các cấp độ khác nhau. Năm 2002, chỉ tiêu tuyển sinh vào các khoa tin học và CNTT được nâng lên 8000. Nhưng loại hình này đang đào tạo như thế nào? Có thể tham khảo một thực tế: ở cả hai khoa CNTT vốn được quy hoạch thành khoa trọng điểm do Nhà Nước đầu tư hỗ trợ của ĐHBK và ĐHKHTN (ĐHQG TP.HCM), tỷ lệ máy tính/sinh viên(SV) đều ở mức 1/25. SV muốn truy cập internet - mời ra dịch vụ internet công cộng hoặc về nhà. Một SV năm cuối của ĐHBK Hà Nội viết trên diễn đàn sinh viên (Mạng ttvn.com.vn ngày 22/5/2002) thế này: 'Chương trình học rất lan man, lập trình C một tý, Unix một tý, kỹ thuật vi xử lý một tý..., thế rồi một đống các môn điện tử, lý thuyết mạch. Cuối năm thứ 4 mới được phân về các bộ môn chuyên ngành hẹp. Viết chương trình, kiểm tra định kỳ, thi đều trên giấy, chỉ những giờ thực hành ít ỏi SV mới được dùng máy'.

    GS Hoàng Kiếm (ĐHQG TP.HCM), giám đốc Trung Tâm Phát Triển CNTT TP.HCM cho biết, đây cũng là tình trạng chung của các trường khu vực phía Nam và nói thêm: 'Chương trình học gần như không thay đổi suốt 10 năm qua'.

    Còn TS Đồng Thị Bích Thủy, hiệu phó trường ĐHKHTN TP.HCM thì lại cho rằng trên thực tế, chương trình học đã có một số thay đổi như thêm môn học mới, sửa lại nội dung một số môn. Tuy vậy, bà Thủy cũng thừa nhận khả năng cập nhật chương trình luôn chậm một bước so với đòi hỏi của các doanh nghiệp. Phần lớn cử nhân CNTT tìm việc làm ở những đơn vị ứng dụng CNTT, vốn không có đòi hỏi cao lắm về trình độ chuyên môn. Theo bà Thủy, nhân lực CNTT hiện nay không đáp ứng được yêu cầu là do hệ thống đào tạo chính quy chỉ cho ra một loại trình độ, nhưng xã hội lại đòi hỏi rất nhiều trình độ khác nhau, trong đó tỷ lệ SV đáp ứng được yêu cầu của các công ty sản xuất phần mềm rất ít. Nếu có vài ba công ty cần tuyển 100 - 200 người trong năm là các trường đã không đáp ứng được. Bà Thủy rất lo ngại về thực trạng này và nhận xét: không phải ai ở trong ngành đào tạo cũng thấy điểm yếu rất lớn đó.

    Trong bối cảnh này, có vẻ như một số các cơ sở đào tạo thuộc loại III  đã có chỗ đứng. Aptech là một thí dụ: số lượng đào tạo còn khá khiêm tốn (từ 100-150 người/năm) nhưng bù lại, khi khóa đầu tiên tốt nghiệp trong tháng 5 vừa qua, tỷ lệ tìm được việc làm thích hợp lên đến 80%. Ông Hoàng Minh Châu, giám đốc FPT TP.HCM nói rằng lực lượng lập trình viên của FPT đang dựa vào loại đào tạo này.

    Học Viện Mạng Cisco, đại diện cho loại IV, đã có 150 người Việt Nam tốt nghiệp và hơn 1000 người khác đang theo học. Các học viên Việt Nam được ông Gordon Astles, chủ tịch khu vực châu Á - Thái Bình Dương đánh giá là 'không thua kém bất cứ học viên nào ở Mỹ, Canada, Australia hay Singapore'. Quan điểm đào tạo của những đơn vị này là chỉ chú trọng đến công nghệ, công cụ, hướng dẫn học viên thích ứng ngay vào quy trình làm việc của các công ty phần mềm, xây dựng và vận hành cơ sở hạ tầng mạng..., chạm đúng 'cơn khát' nhân lực của các doanh nghiệp cũng như mục tiêu phát triển CNTT của Chính Phủ. Và vì vậy, họ đã thành công.

    Doanh nghiệp nói gì?

    Hai năm trước, Paragon Solutions Việt Nam (PSV) tuyển lập trình viên, tỷ lệ hồ sơ đạt sơ tuyển đợt 1 là 50%, đợt 2 còn 20%, và đạt yêu cầu tuyển dụng chỉ có 8%.  Năm nay, công ty TMA cần 100 kỹ sư, sơ tuyển được khoảng 60 người, vòng 2 chọn được... 5 người để 'cố mà sử dụng'. Từ giờ đến cuối năm, Pyramid Software Development (PSD) cần tuyển 30 lập trình viên, song hơn 1 tháng qua mới tìm được 1 người. Đây chỉ là ba trong số hàng trăm câu chuyện tuyển dụng giống hệt nhau của các doanh nghiệp CNTT hiện nay.

    100% sinh viên CNTT tốt nghiệp được tuyển dụng đều bắt đầu 'sự nghiệp đi làm' của mình bằng việc... tiếp tục học. Điều này thì cũng không có gì lạ. Bên Tây, bên Mỹ cũng vậy thôi. Cái lạ là ở chỗ thời gian phải đào tạo thêm quá dài, kiến thức phải học tập thêm quá nhiều. Ít doanh nghiệp phàn nàn về trình độ học vấn cơ bản của sinh viên CNTT hiện nay, chỉ có điều các em thích ứng với công việc rất chậm. Ta hãy xem các cung bậc của màn đồng ca của các doanh nghiệp về vấn đề này:

    - Với PSV thì 8% sau khi được chấp nhận chuyển sang đào tạo tiếp, với rất nhiều kiến thức phải bổ sung, từ tiếng Anh đến kỹ thuật, kỹ năng quản lý, giao tiếp.

    - Giám đốc FPT TP.HCM, ông Hoàng Minh Châu thì nhận xét: Hầu hết sinh viên mới ra trường không biết gì về các quy trình chất lượng. Trong khi hiểu biết và làm việc theo quy trình công nghiệp (yếu tố đảm bảo 80% thành công của các dự án CNTT) lại là một trong những yêu cầu quan trọng nhất của FPT.

    - Công ty TMA cũng đánh giá các kỹ năng và kiến thức về quản lý của kỹ sư CNTT Việt Nam rất thấp, TMA đã phải tốn nhiều công sức để đào tạo căn bản từ đầu cho đội ngũ quản lý dự án (project manager).

    - 'Chúng tôi phải đào tạo lại gần như từ đầu' - ông Phí Anh Tuấn, phó giám đốc công ty AZ nói - 'và trong suốt quá trình làm việc, chúng tôi liên tục phải nhắc nhở các em về tác phong làm việc, về tính kỷ luật'.

    Và như thế nào là tinh?

    Nếu theo kiểu 'chẻ sợi tóc ra làm tám' thì câu hỏi này sẽ có nhiều đáp án vì mỗi đối tượng sử dụng nguồn nhân lực sẽ định nghĩa 'tinh' khác nhau. Tuy nhiên đó là khi mà mặt bằng chung đã phải tương đối ổn. Còn như tình hình của ta hiện nay, tạm gọi 'tinh' là 'đáp ứng được yêu cầu chung của các công ty phát triển phần mềm'.

    Quan điểm của các đơn vị đào tạo khá giống nhau ở chỗ cho rằng loại hình đào tạo chính quy chỉ cung cấp kiến thức nền, những kỹ năng làm việc sẽ do chính các cử nhân học tập từ môi trường làm việc thực tế. Nhiều trường vẫn yên tâm rằng SV CNTT của mình ra trường không mấy khi bị 'ế', tuy không rõ  họ đi đâu về đâu. Ông Chu Tiến Dũng, GĐ công ty Phát Triển Công Viên Phần Mềm Quang Trung đã nhận xét rằng hai bên đang nói một câu chuyện dài không có mấy tương giao. Thế nên, cái vòng luẩn quẩn 'thừa mà thiếu' nhân lực, cần 'rất nhiều' nhưng tuyển 'chẳng được bao nhiêu' của ngành CNTT vẫn còn có cơ kéo dài.

    Trong khi đó, các doanh nghiệp lại có những đòi hỏi rất cụ thể đối với nguồn nhân lực. Ngoại ngữ, cụ thể tiếng Anh là yêu cầu hàng đầu. FPT cho rằng kỹ năng giao tiếp là một môn học rất quan trọng, thế nhưng vẫn chưa được mấy quan tâm. Ông Nguyễn Tiến Thanh, một kỹ sư đang làm việc tại Tokyo (Nhật Bản) cho tập đoàn Itochu cho biết, yêu cầu của các công ty Nhật Bản cũng chỉ xoay quanh tiếng Anh, tính kỷ luật và kinh nghiệm lập trình thương mại. Tập hợp yêu cầu của các doanh nghiệp về vấn đề nhân lực CNTT, chúng tôi tạm sắp xếp theo một trình tự  như sau: Tiếng Anh - Kỹ năng giao tiếp - Khả năng nắm bắt và tự tìm hiểu công nghệ mới - Làm việc theo quy trình công nghiệp, kỹ năng làm việc theo nhóm và tính kỷ luật - Có khả năng đánh giá, định lượng công việc một cách xác thực - Chịu được thử thách, áp lực công việc...

     Quá sốt ruột với tình trạng khó khăn, bế tắc trong tuyển dụng, nhiều doanh nghiệp phải tự đào tạo cho mình. Thế nhưng, ông Nguyễn Ngọc Thịnh, tổng GĐ PSD và ông Nguyễn Thanh Tuân, GĐ TTN lại lắc đầu: các công ty, tập đoàn lớn mới đủ lực (chiến lược, tài chính) tự đào tạo chứ công ty nhỏ (chiếm tỷ lệ trên 80%) không thể kiêm mãi việc tự đào tạo, trong khi đó lại không thể sử dụng ngay những cử nhân CNTT ra trường và cũng không cạnh tranh nổi trong việc thu hút chất xám.

    Chúng tôi tán thành ý kiến của TS Nguyễn Hữu Lệ, chủ tịch Hội Đồng Tư Vấn công ty TMA: 'Đứng từ góc độ là doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm của hệ thống đào tạo các kỹ sư CNTT, chúng tôi chưa thực sự cần tuyển dụng đặc biệt (sản phẩm của đào tạo theo đơn đặt hàng). Nếu chúng ta xây dựng được một hệ thống đào tạo gắn với thực tiễn, tức là để 70% - 80% nhân lực CNTT đủ sức tham gia sản xuất công nghiệp CNTT, theo tôi là thành công'

    Thi Cầm

    ID: B0212_14