• Thứ Ba, 11/05/2004 09:49 (GMT+7)

    Thị trường lao động CNTT: thực và ảo

     


    Thông tin tuyển dụng việc làm ngành CNTT luôn thu hút nhiều người tìm việc.

     

    Đã từng có nhiều cuộc hội thảo về nhân lực CNTT, nhưng các kết luận đều chung một lời đáp cũ mòn rằng số lượng đang tăng nhanh, còn chất lượng rất yếu kém. Gần đây lại rộ lên trên các báo (Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Đầu Tư, Bưu Điện...) vấn nạn thất nghiệp của sinh viên tốt nghiệp đại học (ĐH) về CNTT. Việc nhiều tác giả mới chỉ căn cứ vào con số 12,38% sinh viên tốt nghiệp (SVTN) không có việc làm để báo động dư luận có lẽ chưa thoả đáng. Vấn đề việc làm cụ thể của 87,62% số người tạm gọi là may mắn kia mới thực sự quan trọng. Bức tranh về thị trường lao động CNTT đâu là thực, đâu là ảo? Nếu ta công phu thêm một chút, đào bới các số liệu trong báo cáo điều tra việc làm của sinh viên tốt nghiệp ĐH do WB (World Bank) và Bộ Giáo Dục & Đào Tạo công bố (3/2002) sẽ thấy nhiều con số biết nói ra sự thực.

    Cuộc điều tra tiến hành năm 2001 với 58 ngàn SVTN 2000 và 1999 của 61 trường, chiếm gần 40% tổng số SVTN. Tuy ngành CNTT có số người tham gia khảo sát chưa cao, nhưng đã đại diện cho các khối trường, các vùng - miền, nên kết quả khảo sát cũng là một bức tranh tương đối toàn diện.

    Thất nghiệp thực và thất nghiệp ảo

    Con số 12,38% người chưa có việc làm được coi là "thất nghiệp thực" chưa phải quá cao trong cơ chế thị trường hiện nay ở Việt Nam. Nhưng còn nội dung công việc của 87,62% người đang có việc làm thì sao? 8,60% không phù hợp và 1,82% rất không phù hợp, cộng là 10,42%. Thực chất số người có bằng ĐH này đang làm việc của những nhân viên văn thư đánh máy hay công việc rất phụ, chỉ cần đào tạo 3 - 6 tháng về CNTT thay vì 4 năm học tốn gạo cha mẹ, phí ngân sách đào tạo của Nhà Nước. Vậy 10,42% đó có thể coi là "thất nghiệp ảo".

    Làm việc giản đơn ắt thu nhập thấp, nên số "thất nghiệp ảo" khá trùng hợp với số người có thu nhập dưới 500.000đ/tháng trong lĩnh vực CNTT (9,55%), xấp xỉ với thu nhập của lao động phổ thông (20.000đ/ngày ở các chợ lao động). Điều này lý giải vì sao năm 2002 số thí sinh dự thi  vào ngành CNTT giảm 1/3, có trường giảm 2/3. Cộng lại, con số thất nghiệp thực và ảo lên đến 22,80%. Đó mới là tỷ lệ đáng báo động!

    Nhà nước chưa mặn mà tuyển lao động CNTT

    Về môi trường hoạt động của SVTN ngành CNTT, báo cáo cho các tỷ lệ: cơ quan nhà nước 45,29%, doanh nghiệp tư nhân 32,73%, còn lại thuộc thành phần kinh tế khác. So với 14 ngành đào tạo, tỷ lệ SVTN ngành CNTT được thu nhận vào cơ quan nhà nước thấp nhất (các ngành khác: giao thông 91,67%, xây dựng 78,01%, du lịch 76,65%...). Có một thực tế là 61 tỉnh thành và 20 bộ, 17 cơ quan thuộc Chính Phủ khi lập dự án triển khai chương trình  112 (Tin học hóa quản lý hành chính nhà nước ) đều giấy trắng mực đen ghi rõ sự thiếu hụt nghiêm trọng nhân lực CNTT. Họ đều lập tiểu dự án đào tạo nhân lực CNTT riêng cho ngành, địa phương mình. Sao Nhà Nước không tuyển dụng  nhiều hơn số 45,29% SVTN ngành CNTT? Họ yếu kém về chất lượng hay vì cơ chế? Rõ ràng cơ hội việc làm của các kỹ sư, cử nhân CNTT trong cơ quan nhà nước đang là thực mà hoá ảo.

    25.000 Chuyên viên làm phần mềm (2005) là chỉ tiêu ảo?


    Bao nhiêu sinh viên CNTT tốt nghiệp được làm việc trong ngành CNTT như thế này?(Ảnh chụp tại cty phần mềm TMA)

     

    Chất lượng đào tạo qua cuộc điều tra cho thấy số SVTN đạt trung bình (TB) và TB khá là 73,34%, khá 19,76%, giỏi 6,22% và xuất sắc 0,68%. Như vậy, hệ thống đào tạo của ta hàng năm cung cấp cho thị trường lao động những lứa tốt nghiệp làng nhàng tới trên 70%, chỉ đủ năng lực làm việc ứng dụng CNTT. Trong khi đó số người giỏi và xuất sắc khá trùng hợp với tỷ lệ người làm ở doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (5,79%) và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam (0,82%). Các công ty phần mềm trong nước chỉ muốn tuyển dụng trong số 19,76% khá, nên mới xảy ra hiện tượng tuyển 10 người may được 1 và đều phải đào tạo thêm. Hãy cứ coi 26,66% số người khá, giỏi, xuất sắc là tiềm năng của lực lượng chuyên viên phần mềm vào năm 2005. Ta lại tính số SVTN ngành CNTT từ năm 1999 - 2005 đạt 3.000 - 6.000 người/năm, trung bình là 4.500 người/năm. Vậy từ 1999 - 2005 ta sẽ có thêm được 7.200 chuyên viên phần mềm, cộng với số đã có trước năm 1999 khoảng 5000 người là 12.200 người. Chỉ tiêu thực, điều tra ảo hay ngược lại? Ta hãy cố gượng xét đến khả năng 73,34% SVTN loại TB khá có thể bổ sung vào nhân lực làm phần mềm. Số này khá phù hợp với tỷ lệ SVTN cần đào tạo thêm ngoại ngữ (70,8%). Nhưng kém về CNTT đào tạo thêm ngoại ngữ so với đối tượng giỏi ngoại ngữ đào tạo thêm CNTT, lộ trình nào dễ thành chuyên viên phần mềm, thực- ảo còn chưa rõ. Chỉ có điều tại cuộc hội thảo về nhân lực CNTT trong tuần lễ tin học vừa qua (08/11/2002), sinh viên H.A.Q đã nói: "Cháu là sinh viên giỏi, tốt nghiệp ĐH Ngoại Ngữ tiếng Anh, đang thất nghiệp. Chúng cháu rủ nhau theo học khoá đào tạo CNTT  ở Trung Tâm Aptech Hà Nội, cũng thuộc loại giỏi. Thế nhưng khi cháu xin việc ở đâu, các nhà tuyển dụng cũng đòi hỏi có bằng ĐH chuyên ngành CNTT, nên vẫn đành thất nghiệp". Lời phát biểu của sinh viên nọ có khơi gợi điều gì cho các nhà vạch chiến lược đào tạo nhân lực CNTT?

    Nhìn chung, thị trường lao động CNTT  thực và ảo đã sáng tỏ một phần. Nên chăng tiếp tục có những cuộc điều tra kỹ và sâu rộng hơn?

    Vũ Ngọc Tiến

     

    ID: B0212_17