• Chủ Nhật, 27/06/2004 21:10 (GMT+7)

    Nguồn nhân lực Việt Nam xếp hạng thấp nhất!

    Thứ hạng chung 20/25 trong bảng tổng sắp về 'nơi thu hút gia công dịch vụ tốt nhất' nêu trong bài gợi nhiều suy nghĩ về tương lai xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam. Tuy từng công ty phần mềm (PM) có thể cố gắng vượt bậc để đạt được các thành tích rất xuất sắc, nhưng để thể hiện bộ mặt quốc gia một cách sáng sủa thì chỉ có thể nhờ vào các giải pháp vĩ mô mang tầm chiến lược được thực hiện nghiêm tú


    Lọt vào danh sách của Kearney

    Đối với nhiều nước đang phát triển, xuất khẩu dịch vụ là một nguồn thu lớn, chẳng hạn như Ấn Độ đặt mục tiêu đến năm 2008 doanh số xuất khẩu dịch vụ liên quan đến PM sẽ đạt con số 60 tỷ USD. Chiến lược xuất khẩu PM của Việt Nam hiện nay cũng định hướng vào xuất khẩu dịch vụ là chủ yếu. Tuy nhiên, liệu Việt Nam có được các đối tác nước ngoài xem là một lựa chọn tốt cho công việc gia công PM và dịch vụ hay không?

    Đáng mừng, tập đoàn tư vấn quốc tế Kearney (4/2004), với từ ngữ chính xác là 'most attractive offshore location - nơi thu hút gia công dịch vụ tốt nhất' đã đánh giá Việt Nam với điểm số 4,70/10, được xếp hạng 20/25 nước được chọn vào vòng chung kết (bảng 1). Trong phần kết luận, báo cáo Kearney nêu rõ các đánh giá này được các công ty nước ngoài căn cứ vào để chọn nên gia công ở nước nào, và để các quốc gia tham khảo để hình dung được tiềm năng, điểm mạnh yếu của mình trong việc thu hút nguồn cung cấp việc làm từ các nước khác. Tuy nhiên, đi vào từng chỉ tiêu, ta chợt giật mình nhận ra cái điều mừng ít lo nhiều!

    Chưa hết mừng khi Việt Nam ở vị trí 2/25 về chỉ tiêu tài chính...

    Trong 3 chỉ tiêu dẫn đến xếp hạng chung: tài chính, môi trường kinh doanh (MTKD), nguồn nhân lực (xem bảng 1), chỉ tiêu tài chính được xem là quan trọng nhất với trọng số 4/10; 2 chỉ tiêu còn lại có trọng số 3/10. Chỉ tiêu tài chính được tính dựa vào các yếu tố và theo trọng số:

    -  Chi phí lương trung bình: 8/10.

    -  Chi phí cho hạ tầng (viễn thông, điện, thuê nhà, đi lại): 1/10.

    -  Chi phí liên quan đến thuế, biến động tỷ giá ngoại tệ và tệ nạn tham nhũng: 1/10.

    Điểm cho chỉ tiêu tài chính của Việt Nam là 3.65, xếp vị trí thứ 2, chỉ sau Ấn Độ (3.72). Đây là một ưu thế của Việt Nam mà các nước khác phải thừa nhận (bảng 2).

    Về chi phí lương, chỉ có 4 nước được 3 điểm trở lên là Ấn Độ, Việt Nam, Philippines và Trung Quốc. Chi phí nhân công đắt nhất thuộc về Ireland, Canada và Australia.

    Về chi phí hạ tầng, Việt Nam được 0,25 điểm, xếp thứ 9, đồng hạng với Nam Phi và Israel. Các vị trí đầu bảng của tiêu chí này thuộc về Malaysia, Canada và Argentina.

    Về chi phí thuế và các chi phí khác, Việt Nam được 0,23 điểm xếp thứ 10, đồng hạng với Israel, Argentina và Philippines. Xếp đầu bảng là Singapore, Ấn Độ và Thái Lan.

    ... Đã lo lắng bởi thứ hạng áp chót về chỉ tiêu môi trường kinh doanh (MTKD)...

    Chỉ tiêu này Việt Nam xếp áp chót: 24/25 với điểm số 0,7, chỉ hơn Nga (0,51) (bảng 3). Đứng đầu bảng này là Singapore, sau đó là Canada, Ireland, New Zealand.

    Chỉ tiêu MTKD được tính dựa vào các tiêu chí:

    -  Rủi ro liên quan đến MTKD (môi trường kinh tế xã hội, khả năng thu hút đầu tư, hỗ trợ của chính phủ cho ngành CNTT-TT, tình trạng quan liêu,...)

    -  Chất lượng hạ tầng cơ sở (viễn thông, dịch vụ CNTT…)

    -  Mức độ thích nghi văn hoá (giao lưu cá nhân)

    -  Bảo vệ sở hữu trí tuệ (luật CNTT-TT, tỷ lệ vi phạm bản quyền PM)

    Về độ an toàn (ít rủi ro) liên quan đến MTKD, Việt Nam xếp thứ 20/25 với điểm số 0,63. Đứng cuối danh sách là Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Nam Phi. Ít rủi ro nhất là Singapore, Ireland và Canada.

    Về hội nhập văn hoá, Việt Nam được 0,02 điểm, chỉ ở vị trí thứ 23 (trên Trung Quốc và Brazil). Đứng đầu là Ireland, Singapore, Canada và Israel. Chỉ tiêu hội nhập văn hoá dựa trên chỉ tiêu giao lưu cá nhân - một thành phần của chỉ số toàn cầu hóa (Globalization Index) - đây là tiêu chí đánh giá mức độ hội nhập quốc tế được tính theo 4 tiêu chí: hội nhập về chính trị (đánh giá qua việc là thành viên của các tổ chức quốc tế); hội nhập về công nghệ (đánh giá qua mức độ phát triển Internet); hội nhập về kinh tế (đánh giá thông qua giao tiếp thương mại, thu hút đầu tư); hội nhập về cá nhân (đánh giá qua phát triển du lịch, trao đổi lao động với nước ngoài và lưu lượng điện thoại ra nước ngoài).

    Về 2 chỉ tiêu hạ tầng cơ sở và sở hữu trí tuệ, rất buồn là Việt Nam đứng cuối bảng (hạ tầng: 0,04 điểm, sở hữu trí tuệ: 0,01 điểm) - vị trí này phản ánh khá trung thực thực trạng của chúng ta hiện nay. Về hạ tầng cơ sở, Canada, Australia và Singapore được đánh giá tốt nhất. Đấy cũng là 3 nước đứng đầu bảng về việc thực thi sở hữu trí tuệ.

    ... Và giật mình với vị trí thấp nhất về chỉ tiêu nhân lực

    Chỉ tiêu nhân lực của Việt Nam, mà chúng ta vẫn thường đánh giá cao về tiềm năng, xếp cuối bảng với điểm số 0,35, kém nước đứng đầu là Ấn Độ (1,39) tới 4 lần (bảng 4).

     

     

    Phân loại outsourcing (thuê gia công)

     

     

     

    IT outsourcing: thuê gia công CNTT, trong đó có gia công PM (software outsourcing). Đây là dịch vụ thuần túy CNTT.
    BPO (Business Process Outsourcing): thuê gia công các chu trình trong kinh doanh mà thường có CNTT hỗ trợ. Ví dụ: thuê thực hiện quá trình quản lý tài chính- kế toán, trị sự, hậu cần (logistics), quản lý cơ sở hạ tầng, quản lý dây chuyền cung ứng, kê đơn thuốc v.v...
    Ấn Độ đi đầu trong lĩnh vực BPO. Còn Việt Nam mới 'mấp mé' ở ngưỡng software outsourcing. Việt Nam muốn tham gia vào thị trường BPO cần có đội ngũ nhân viên thông thạo Anh ngữ, giỏi nghiệp vụ lập trình và kinh doanh.

     

    Chỉ tiêu này được tính thông qua các tiêu chí:

    -  Kỹ năng (qui mô của thị trường gia công CNTT và BPO (gia công quá trình kinh doanh), chất lượng đào tạo về CNTT và quản trị kinh doanh)

    -  Nguồn nhân lực (số lượng nhân lực nói chung và nhân lực có trình độ đại học)

    -  Giáo dục và ngôn ngữ (việc đào tạo, kiểm tra trình độ giáo dục và ngôn ngữ được chuẩn hóa)

    -  Tỷ lệ tiêu hao nhân lực (quan hệ giữa nhu cầu tăng trưởng việc làm liên quan đến BPO và chỉ số thất nghiệp)

    Về kỹ năng chuyên môn, Việt Nam ở vị trí thấp nhất (0,04). Ấn Độ xếp hạng cao nhất (1,03).

    Về nguồn lực, Việt Nam xếp thứ 11/25 (0,04 điểm), đồng hạng với Canada và Argentina. Xếp hạng cao nhất là Trung Quốc, thấp nhất là New Zealand, Singapore, Costa Rica và Ireland (dân số các nước này thấp hoặc rất thấp).

    Về chuẩn hoá giáo dục, Việt Nam được 0,08 điểm, xếp thứ 23/25, chỉ trên Nam Phi và Brazil. Vị trí đầu bảng thuộc về Canada, New Zealand và Australia.

    Về chuẩn hoá ngôn ngữ, Việt Nam ở vị trí thứ 24/25 (0.04 điểm), chỉ xếp trên Trung Quốc. Bốn nước Canada, Australia, New Zealand và Ireland ở vị trí hàng đầu.

    Về tỷ lệ tiêu hao nhân lực, Việt Nam xếp thứ 17/25 đồng hạng với Australia và Hungary (0,15 điểm). Vị trí đầu bảng thuộc về Nam Phi.

    Đi tìm nguyên nhân và giải pháp cho nguồn nhân lực

    Chi phí lương thấp cho công việc gia công tại Việt Nam là yếu tố hấp dẫn các nhà đầu tư. Tuy nhiên, do tiêu chí này chỉ chiếm  32% tổng điểm chung nên không đưa Việt Nam lên cao hơn vị trí 20/25 được. Điều này chứng tỏ đối với công việc gia công, chi phí thấp không còn là yếu tố quyết định nữa. Trong bảng tổng sắp, Singapore dù có chi phí cao nhưng vì môi trường kinh doanh tốt (đứng đầu) nên vẫn đứng ở vị trí thứ 5 (bảng 1).

    Một trong các giải pháp nhằm giải quyết vấn đề nhân lực cho ngành CNTT đã từng được Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng nêu từ năm 2000 trong chỉ thị 58 ('xã hội hoá mạnh mẽ việc đào tạo CNTT'), và được chính phủ khẳng định lại nhiều lần trong các Quyết Định (QĐ) 128, QĐ 81, QĐ 95. Đồng thời, Bộ Chính Trị đã giao cho Bộ Giáo Dục Đào Tạo (GDĐT) phải 'xây dựng các biện pháp cụ thể nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế, các chuyên gia về CNTT nước ngoài tham gia đào tạo nhân lực về CNTT' (QĐ 81/2001/TTg). Chủ trương đúng đắn này chưa được thực hiện một cách nghiêm túc.

    Tháng 9/2003, trong Hội thảo quốc gia về CNTT-TT, Bộ GDĐT trình bày 'Định hướng phát triển nguồn nhân lực về CNTT đến năm 2010' và nêu ra 6 dự án trọng tâm, trong đó có dự án số 3 'Đa dạng hoá, xã hội hoá đào tạo nguồn nhân lực CNTT'. Tiếc rằng trong QĐ số 331/QĐ-TTg vừa được Thủ Tướng Chính Phủ  ký ngày 6/4/2004 phê duyệt chương trình phát triển nguồn nhân lực về CNTT từ nay đến năm 2010, số dự án lớn vẫn là 6, nhưng dự án số 3 nêu trên đã được thay thế bằng dự án khác: 'Nâng cao chất luợng đào tạo về CNTT ở bậc trung học và dạy nghề'.

    Về mặt tổ chức, CNTT - TT như một cái bàn 4 chân: cơ sở hạ tầng, công nghiệp, ứng dụng và nguồn nhân lực. Trong Bộ BCVT đã có 3 vụ quản lý 3 thành phần: Vụ Viễn Thông quản lý cơ sở hạ tầng, Vụ Công Nghiệp CNTT quản lý công nghiệp CNTT, Vụ Khoa Học Công Nghệ quản lý ứng dụng. Nếu như chức năng quản lý công nghiệp CNTT đã được chuyển khỏi Bộ Công Nghiệp, chức năng quản lý ứng dụng CNTT được chuyển khỏi Bộ Khoa Học Công Nghệ để hình thành các cục tương ứng trong Bộ BCVT nhằm tập trung quản lý về một đầu mối, thì không hiểu sao việc quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực CNTT vẫn do 3 Bộ cùng chịu trách nhiệm (BCVT, GDĐT và LĐTBXH). Tại sao không thành lập một đơn vị cấp Cục có chức năng về nhân lực (có tên gọi, ví dụ, Cục Phát Triển Nguồn Nhân Lực CNTT) để cái bàn có đủ 4 chân, khỏi phải dựa vào nơi khác thay một chân khuyết như hiện nay?

    Đầu tháng 5/2004, một công ty đầu tư rất lớn của Mỹ từng đầu tư thành công vào nhiều tên tuổi lớn trong ngành CNTT đã tới Việt Nam thăm một số công ty PM. Khi được hỏi phải chăng các ngài đánh giá cao ưu thế gia công PM của Việt Nam, các vị khách trả lời rằng đâu có, một quốc gia với doanh số CNTT cả năm chỉ được nửa triệu đô la thì đâu đáng để quan tâm nhiều. Họ muốn tìm hiểu đôi chút về điều rất lạ lùng là với một nước có doanh số CNTT thấp như vậy (thấp hơn cả doanh số luyện thi đại học) mà lại có công ty PM đạt CMM tới tận mức 4, mức 5 và có công ty gia công PM (TMA Solutions) được đưa vào danh sách điển hình (Best Practices).

    Phải chăng đây là thế mạnh 'lạ lùng' của Việt Nam mà không phải đối tác nước ngoài nào cũng hiểu nổi? Từng công ty PM có thể cố gắng vượt bậc để đạt được các thành tích rất xuất sắc, nhưng để thể hiện bộ mặt quốc gia một cách sáng sủa thì chỉ có thể nhờ vào giải pháp vĩ mô mang tầm chiến lược và được thực hiện với đầy đủ tính nghiêm túc và tinh thần trách nhiệm. Hãy thử hình dung thị trường PM nước Nhật  80 tỷ USD/năm. Nếu gia công PM và dịch vụ của Việt Nam chiếm 1% thị phần ấy đã là 800 triệu USD/năm, vượt ngưỡng chỉ tiêu trong Chỉ Thị 58 (500 triệu USD) cỡ 60%. Đâu có ít. Một khi môi trường kinh doanh và nguồn nhân lực Việt Nam được cải thiện, chắc chắn doanh số sẽ không dừng ở đó. Chỉ có điều, người chờ chính sách, còn thời cơ lại không đợi người.

    Lê Trường Tùng

    ID: B0406_17