• Chủ Nhật, 27/06/2004 21:10 (GMT+7)

    Doanh thu phần mềm: Giải pháp để vượt ải

    Doanh thu CNpPM Ấn Độ đạt 7,8 tỷ USD/năm chủ yếu nhờ gia công PM xuất khẩu và dịch vụ. Còn doanh số PM Việt Nam năm 2003, ước tính chỉ đạt 100 triệu USD với doanh thu xuất khẩu PM khoảng 25-30 triệu USD. Làm gì để CNpPM Việt Nam đẩy nhanh tích lũy ngoại tệ?

    Tăng cường tiếp thị, tìm đối tác chiến lược

    'Việt Nam đang có cơ hội đẩy mạnh gia công PM xuất khẩu ra nhiều thị trường mới', ông Mạc Nguyễn Hưng, giám đốc điều hành tập đoàn Global Cybersoft nhận định. Vào thời điểm hiện nay, các công ty thuê gia công trên thế giới đều muốn dàn trải rủi ro, 'không muốn để tất cả trứng vào cùng một giỏ' để tránh việc Ấn Độ, Trung Quốc nâng giá gia công. Vì vậy, bên thuê gia công sẽ thuê gia công tại nhiều công ty, thuộc nhiều quốc gia, thậm chí còn tạo điều kiện cho các đối tác cạnh tranh nhau.

    Cơ hội là vậy, nhưng việc tìm thị trường và chọn cách tiếp thị thích hợp mới là bài toán khó với các công ty PM Việt Nam. Theo tính toán của ông Ngô Dương Hoàng Thao, phó tổng giám đốc SaigonTel, chi phí cho đại diện thương mại có trình độ và một văn phòng duy nhất tại Mỹ hay Nhật Bản khoảng 250.000 USD/năm; có thể tạo ra 1-3 triệu USD/năm, nhưng công ty đầu tư phải chịu lỗ năm đầu. Còn chi phí nhân công ở Việt Nam khoảng 10-12 USD/giờ cộng với chi phí hoạt động và quản lý. Như vậy, chỉ có công ty vốn lớn, quy mô hơn 75-100 người mới có khả năng chịu nổi rủi ro để thâm nhập thị trường quốc tế. Ông Thao khuyên các công ty nên căn cứ trên quy mô của mình để chọn thị trường quốc tế hay trong nước nhằm mang lại hiệu quả cao nhất.

     

     

    Ông Trương Gia Bình, chủ tịch VINASA, Tổng giám đốc FPT:
    VINASA có định hướng kiên định là phải xuất khẩu PM, hiện tại lấy thị trường Nhật Bản là tâm điểm. Chiến lược này lúc đầu đã có những thành công với sự ra mắt của Liên Doanh PM Việt Nhật. Tháng 6 tới, thứ trưởng Mai Liêm Trực sẽ dẫn đầu đoàn VINASA sang Nhật Bản để đẩy mạnh sự gia nhập vào thị trường này.

     

    Một cách tìm kiếm khách hàng hiệu quả khác là thông qua các đối tác chiến lược nước ngoài ngay tại thị trường đó. GCS đã thực hiện cách này tại Nhật thông qua công ty Sumitomo Japan. Kết quả là Sumitomo Japan đã giới thiệu hơn 10 khách hàng Nhật với GCS từ tháng 7/2003 đến nay, dự kiến từ nay đến hết 2004 sẽ giới thiệu thêm 20 khách hàng nữa. GCS  còn mở rộng sang thị trường Singapore bằng cách ký tiếp hợp đồng hợp tác chiến lược với Sumitomo Singapore (ảnh bìa). Công ty này cũng trở thành khách hàng Singapore đầu tiên của GCS, với yêu cầu gia công các PM điều khiển (drivers) tự động hóa nhà máy sản xuất chip theo công nghệ wafer 300 mm.  

     

     

    Ông Yoshinobu Fukuda, giám đốc điều hành bộ phận Thiết Bị và Điện Tử tập đoàn Sumitomo Singapore:
    Theo tôi, công ty Việt Nam cần bổ sung tiếng Anh để tăng khả năng nhận dự án gia công PM từ các nước. Tuy nhiên, không nên chỉ gia công theo đơn đặt hàng mà phải tự sáng tạo và đứng ra cung cấp các giải pháp toàn cầu. Đó là chìa khóa mở vào cánh cửa ngành PM, và gia tăng lợi thế canh tranh. Ngoài ra, gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới(WTO) cũng là nền tảng cơ bản để Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần mở rộng doanh số PM.

     

    Tuy nhiên, các công ty cũng nên cẩn thận với những rủi ro có thể đến từ những đối tác mới tại một thị trường xa lạ. Một công ty có PM thương phẩm đã bán sang thị trường Mỹ và Tây Âu thông qua đối tác nước bạn cay đắng cho biết: đối tác chỉ chia lại khoảng 1/20-1/40 lợi nhuận thu được, mà mình không đủ cơ sở pháp lý khởi kiện, cũng như vốn để theo đuổi vụ kiện (nếu có).

     

     

    Nên chăng xét thưởng doanh số xuất khẩu PM?

     

     

     

    Tháng 8/2002, Sở Thương Mại TP.HCM đã có tờ trình lên UBND TP.HCM số 2567/TM-KH.XNK đề nghị xét thưởng doanh nghiệp có kim ngạch xuất khẩu PM cao. Khảo sát của Sở năm đó cho thấy TP.HCM chỉ khoảng 18% DN PM có xuất khẩu PM, kim ngạch 20.000 - 70.000 USD/năm. Sở đề nghị những DN xuất khẩu PM lần đầu trên 100.000 USD (hoặc trên 50.000 USD với miền núi, hải đảo ), năm sau tăng 20% (miền núi, hải đảo 15%)... nên được xét thưởng, chẳng hạn 300 đồng/USD, để khuyến khích xuất khẩu. Song hai năm đã trôi qua và tờ trình nói trên vẫn chưa nhận được ý kiến phản hồi.
    Nay TGVT-PCW B nhắc lại chuyện cũ với hy vọng PM sẽ được bổ sung vào danh sách mặt hàng được thưởng nếu vượt kim ngạch xuất khẩu. Mong rằng Bộ Thương Mại, Bộ Tài Chính và các cấp khác quan tâm đến ý tưởng này.

     

    Đào tạo theo nhu cầu

    Bên cạnh thị trường, nhân lực luôn là yếu tố được đề cập đến nhiều nhất khi tìm giải pháp tăng doanh số PM. Đáng buồn là các công ty PM vẫn không ngừng than vãn về tình trạng thiếu nhân sự. Ông Ngô Hùng Phương, giám đốc điều hành công ty Paragon Solutions VN, mới đây tiếp tục thở dài: 'Đối tác IBM cần 200 người cho một dự án của họ. Chúng tôi chỉ biết lắc dầu'. Hiện tại, nhân sự PSV thiếu trầm trọng đã ảnh hưởng trực tiếp đến các hợp đồng gia công PM. Theo ông Phương, chỉ có 5% sinh viên CNTT ra trường dự tuyển vào công ty đáp ứng được yêu cầu.

    Cũng có công ty tự tìm lối gỡ riêng. Như GCS đã phối hợp cùng ĐH Mở Bán Công, ĐH Khoa Học Tự Nhiên, ĐH Bách Khoa TP.HCM mở lớp cập nhật công nghệ cho những người mới được tuyển dụng. Từ tháng 4/2004 đến nay, GCS đã đào tạo công nghệ C++ và Java cho 43 người và sẽ tiếp tục đào tạo trong thời gian tới

    Vấn đề đặt ra là nếu nhà trường phối hợp tìm hiểu nhu cầu tại DN, rồi dạy bổ sung cho sinh viên sắp ra trường những chuyên đề công nghệ đang được thị trường yêu cầu, có lẽ DN sẽ 'nhẹ gánh' hơn rất nhiều. Và lượng sinh viên ra trường tìm được việc làm cũng sẽ tăng hơn. Đào tạo theo nhu cầu xem ra sẽ góp phần mạnh mẽ giúp tăng doanh số PM bởi lẽ để tạo ra PM cần có người làm được việc chứ không phải những kỹ sư chỉ có kiến thức... hàn lâm.

    Để vượt ngưỡng 500 triệu USD/năm, PM Việt Nam cần nhiều giải pháp hơn nữa chứ không dừng lại ở thị trường và nhân lực như đã đề cập. Tuy nhiên hai giải pháp trên chính là yếu tố cơ bản cần vượt qua ngay để tạo một bước chuyển mạnh mẽ về doanh số PM. Các giải pháp ấy đang cần những định hướng kịp thời từ Bộ BCVT, Bộ GDĐT và các cơ quan khác.

    Nhóm PV thực hiện

    ID: B0406_19