• Thứ Hai, 30/08/2004 10:33 (GMT+7)

    Chương trình hiện đại hoá hệ cơ sở dữ liệu của Sở Thuế Liên Bang Mỹ: Bóng tối... cuối đường hầm

    Có trong tay nhóm các nhà thầu CNTT sáng giá, IRS (Sở Thuế Liên Bang Mỹ) từng tin vào thành công của chương trình hiện đại hóa cơ sở dữ liệu thuế trong dự toán 8 tỷ USD. Nhưng IRS đã phạm hết sai lầm này đến sai lầm khác. Đây là ví dụ về những hậu quả có thể xảy ra một khi tính phức tạp của dự án vượt quá năng lực quản lý của nhà thầu và chủ dự án

    Có trong tay nhóm các nhà thầu CNTT sáng giá, IRS (Sở Thuế Liên Bang Mỹ) từng tin vào thành công của chương trình hiện đại hóa cơ sở dữ liệu thuế trong dự toán 8 tỷ USD. Nhưng IRS đã phạm hết sai lầm này đến sai lầm khác. Đây là ví dụ về những hậu quả có thể xảy ra một khi tính phức tạp của dự án vượt quá năng lực quản lý của nhà thầu và chủ dự án.

    Hệ thống Master File và cái chết được báo trước

    Master File (MF), hệ cơ sở dữ liệu (CSDL) của IRS, là quả bom nổ chậm. Suốt 40 năm qua, từ thời tổng thống Kennedy, MF theo dõi và lưu trữ giao dịch của 227 triệu cá nhân và tổ chức, cùng các giao dịch của họ với IRS . MF được dùng để xác định việc nộp thuế của dân chúng. Không có nó, chính phủ không thể tiến hành kiểm toán, truy thuế hoặc thậm chí là không thể tính ra số tiền đang được chuyển hoặc phải được chuyển vào ngân khố của Hoa Kỳ.

    Vấn đề của MF là hệ thống này được viết bằng ngôn ngữ lập trình quá cổ, từ năm 1962. Hàng năm, những lập trình viên có thâm niên hàng chục năm của IRS đưa thêm những đoạn mã mới vào để đáp ứng những thay đổi trong chính sách thuế của Quốc Hội. Kết quả: MF bị biến thành một hệ thống chắp vá "hi-tech" cồng kềnh! Những ai biết rõ MF cho rằng hệ thống có nguy cơ "bất đắc kỳ tử", mà như vậy sẽ ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến chính quyền.

    Chương trình hiện đại hóa: Té lên té xuống

    Quốc Hội Mỹ và IRS đã từng chắc mẩm vào năm tài khóa 2004, họ sẽ có CADE ( Customer Account Data Engine- hệ quản trị tài khoản khách hàng) thay thế một phần hệ MF yếu ớt. Xét về mặt tài chính, CADE chỉ là một phần nhỏ của chương trình BSM (Business Systems Modernization- Hiện Đại Hóa Các Hệ Thống Kinh Doanh ), trị giá đến 8 tỷ USD được IRS phát động từ năm 1999. CADE là hệ CSDL tập trung, có khả năng cập nhật thông tin tài khoản thuế cho các chi nhánh của IRS và người đóng thuế, giống như ở các công ty cấp thẻ tín dụng và ở ngân hàng; CADE giúp hoàn thuế và phục vụ khách hàng nhanh hơn.

    Nhưng giờ đây, năm 2004, BSM đã vỡ kế hoạch và phát sinh nhiều chi phí. Phần mềm đầu tiên trong loạt ứng dụng cho cơ sở dữ liệu  thuế mới đã trễ hạn 3 năm so với kế hoạch triển khai, và phát sinh chi phí 36,8 triệu USD. Như thế, kế hoạch triển khai CSDL mới, kỳ vọng có khả năng xử lý lượng phiếu thuế và hoàn thuế nhanh hơn cho 6 triệu người trong 21,5 triệu người điền vào tờ khai thuế 1040EZ của Mỹ, đã tan thành mây khói. Tám dự án trọng điểm khác cũng lỗi hẹn và đội chi phí lên khoảng 200 triệu USD.

    Những ai gắn bó với BSM cho rằng nguyên nhân dẫn tới sai lầm là thói quan liêu đã ăn sâu vào IRS. Cơ quan này đã không tuân thủ những qui trình về phát triển hệ thống mới do chính họ lập ra và đã không chỉ đạo cũng như giám sát nhất quán nhà thầu chính CSC (Computer Sciences Corp.). Đã thế, lãnh đạo lâu năm của IRS lại ngại thay đổi. Họ ép giảm giá thầu của CSC và lương của các CIO (giám đốc thông tin) có trách nhiệm giám sát chương trình. Kể từ khi bắt đầu có kế hoạch cho BSM, đã có 3 CIO đến và đi trong 7 năm qua.

    IRS cho rằng CSC không hiểu và nắm bắt được những yêu cầu của hệ thống thuế. Nhưng cũng có lãnh đạo của IRS lại cho là CSC không có lỗi vì dự án quá phức tạp, còn nhân sự triển khai lại quá mỏng.

    IRS hiện khó có thể tiến hành kiểm toán kịp thời và truy thuế, chứ chưa nói đến những mục tiêu dài hạn là cung cấp dịch vụ khách hàng ngang tầm với các tổ chức tài chính tư nhân. Nếu MF sụp đổ, chính phủ khó có thể thu được 2000 tỷ USD thuế hàng năm hoặc rút tiền để trợ cấp an ninh xã hội hay thanh toán hoá đơn cho hệ thống vũ khí mới.

    Chuỗi kế thừa thất bại

    IRS đã thất bại hai lần. Cuối thập kỷ 1970, tổng thống Carter đã phải bỏ dự án Master File vì hệ thống CSDL thuế thay thế chưa đảm bảo được quyền riêng tư của người nộp thuế. Gần hai thập kỷ sau, năm 1995, Quốc Hội truất phế chương trình hiện dại hóa lần hai của IRS vì tổ chức này đã bỏ ra 2 tỷ USD trong10 năm mà kết quả chẳng có gì đáng kể. Lúc đó, các nhà giám sát IRS ở Quốc Hội đã nhận ra sai lầm của IRS. Các dự án không có các nhà tài trợ. Và hợp đồng không qui định với các hãng thầu rõ ràng về thời hạn phải hoàn thành. Hơn nữa, IRS và các nhà thầu không cam kết chịu trách nhiệm hậu quả phát sinh. Do đó, năm 1996, IRS thuê một CIO mới là Arthur Gross, từng là chủ nhiệm chương trình hiện đại hóa hệ thống thuế New York. Sang 1997, tổng thống Clinton chỉ định Rossotti, một doanh nhân chứ không phải quan chức thuế, làm tổng chủ nhiệm chương trình BSM của IRS. Được Quốc Hội thông qua, IRS đã chọn CSC  làm nhà thầu chính gia công BSM. Khi đó, CSC được xem là nhà thầu giỏi nhất, với tầm nhìn và ý tưởng mới lạ về việc CNTT hóa các qui trình thuế của IRS. Đồng thời, Quốc Hội tổ chức lại IRS và nâng lương lãnh đạo để thu hút nhân tài từ khu vực tư nhân. Sau đó, Rossotti đã mời Paul Cosgrave, chuyên viên tư vấn có hơn 20 năm kinh nghiệm trong khu vực tư nhân, thay thế vị trí CIO của Arthur Gross. Đến 1998, IRS đã bỏ qua Lockheed Martin mà chọn CSC dẫn đầu một nhóm các hãng thầu hàng đầu gồm có IBM, Lucent, Northrop Grumman, Science Application International và Unisys. Nhóm thầu trên đã từng sát cánh với IRS để tạo nên hệ thống MF cũ. Ngay đến bây giờ, ai cũng phải công nhận CSC và IRS đã có được kế hoạch và chiến lược khá hoàn hảo. Nhưng họ lại không triển khai được chúng, và đấy cũng là lúc nội bộ chương trình bắt đầu lục đục.

    Lục đục ngay từ quyền ra quyết định: mặc dù hai bên đã nhất trí CSC sẽ quyết định chủ yếu trong các dự án, nhưng các lãnh đạo bậc trung của IRS đã không tuân thủ. Trong phòng IS (hệ thống thông tin), nhóm BSM và 8.500 nhân viên công nghệ đang vận hành MF không bên nào chịu bên nào. Các chuyên viên quản lý MF thường phải đứng ngoài lề những cuộc thảo luận về hệ thống mới. Còn nhân viên BSM lại bận đến nỗi không thể trao đổi hay tái đào tạo các nhân viên công nghệ cũ của IRS. Theo IRS, CSC không có tính hợp tác. Kết quả: các hệ thống mới thường thiếu những yêu cầu quan trọng và điều này lại dung dưỡng nhóm nhân viên cũ tiếp tục cải tiến hệ thống MF cũ vô tội vạ, bất tuân thủ những chuẩn mới để phục vụ doanh nghiệp. Sau đó, John Reece, nguyên CIO của Time Warner đã thay thế cho Cosgrave vào đầu năm 2001. Điều kiện Reece yêu cầu để bắt đầu công việc là quyền chỉ đạo cả nhóm BSM lẫn nhóm vận hành MF. Rossotti đồng ý.

    Nhưng ngay cả Reece cũng giật mình vì những khó khăn mà chương trình gặp phải lớn hơn ông tưởng. Hàng loạt các dự án thuộc chương trình trễ hẹn. IRS và CSC thiếu một qui trình hoàn thiện và thậm chí đã không thể hoàn thành qui trình bất hoàn thiện mà họ đã tự đề ra. Theo báo cáo kiểm toán, CSC đã tính sai chi phí các dự án, không xác định đầy đủ yêu cầu và không đánh giá đúng mức rủi ro. Reece thậm chí muốn "thay ngựa giữa dòng" bằng cách hủy bỏ hợp đồng thầu với CSC nhưng lại thôi. Và sai lầm nối tiếp sai lầm. Nhóm BSM trở nên vô trách nhiệm khi bật đèn xanh cho chạy ứng dụng kiểm toán mà chưa qua thử nghiệm.  Hay để xin được phép mua thiết bị, nhóm BSM phải mất hàng tuần. Thời gian càng dài, chi phí càng tăng... Ngoài ra, Reece còn bị đồng nghiệp tỵ nạnh vì lương của Reece, một tư vấn được IRS thuê, cao hơn chuyên viên trong IRS. Tháng 4/2003, Reece từ chức CIO sau khi Rossotti mãn nhiệm kỳ 5 năm ở IRS.

    Liệu chương trình BSM có được cứu vãn?

    Tháng 5/2003, Mark Everson, phó giám đốc quản lý OMB của Bush, đã thay chỗ Rossotti. Ba tuần sau, Everson chỉ định CFO của IRS là Grams làm CIO. Nhưng tình trạng trễ hẹn dự án vẫn xảy ra.

    Vậy dự án có thể được cứu vãn không? Levitan, nguyên chủ tịch Ban Giám Sát IRS, nói: "Mọi người hỏi liệu chương trình hiện đại hóa có thất bại? Tôi trả lời là chúng tôi không thể để điều đó xảy ra. Chương trình này phải thành công vì lợi ích của toàn bộ chính quyền liên bang"!

    Hồng Nhật

    ID: B0408_21