• Thứ Ba, 28/09/2004 14:10 (GMT+7)

    Nhân lực phần mềm: Thừa mà thiếu

    Cuộc khảo sát cung - cầu nhân lực làm PM vào cuối tháng 7/2004 do công ty Phát Triển Công Viên PM Quang Trung (QTSC) cùng phòng CNTT, Sở KHCN TP.HCM tiến hành tại 200 DNPM, cơ sở đào tạo ở TP.HCM đã chỉ ra thực trạng chung của đào tạo nhân lực PM hiện nay trên cả nước: thừa mà thiếu


    Cuộc khảo sát cung - cầu nhân lực làm PM vào cuối tháng 7/2004 do công ty Phát Triển Công Viên PM Quang Trung (QTSC) cùng phòng CNTT, Sở KHCN TP.HCM tiến hành tại gần 200 DNPM, cơ sở đào tạo ở TP.HCM đã chỉ ra thực trạng chung của đào tạo nhân lực PM hiện nay trên cả nước: Thừa mà thiếu!

    Cung vượt cầu nhưng vẫn thiếu

    Đồ thị cho thấy: Nếu chỉ tính nhân lực do ĐH cung cấp thì năm 2005 cung không đủ cầu. Tuy nhiên, DN không chỉ cần tuyển trình độ ĐH mà còn cần những chuyên viên lành nghề đáp ứng nhu cầu công việc, được đào tạo từ các trường cao đẳng, trung tâm đào tạo KTV. Nếu tính trên tổng nguồn cung (gồm ĐH, cao đẳng, KTV), đồ thị cho thấy cung nhân lực PM luôn vượt cầu: 6 tháng cuối 2004 cung vượt cầu trên 500%, năm 2005 vượt gần 400%.

    Số lượng là vậy, nhưng trên thực tế, DNPM luôn "than" thiếu người  vì chất lượng  nhân lực tuyển dụng không đạt yêu cầu. TMA chỉ tuyển được 14%/tổng ứng viên nộp hồ sơ, Global Cybersoft chỉ 10%, PSV chỉ 5%... Hầu hết DN sau tuyển dụng phải đào tạo lại cho nhân viên (kể cả cử nhân, kỹ sư) về kiến thức, kỹ năng, ngoại ngữ... Trong đó, số lượng đào tạo lại trên 3 tháng chiếm đến 58,4%. Như vậy kết hợp cung cầu về lượng và chất lại cho kết quả ngược với khảo sát: cung không đủ cầu!

    Nguyên nhân

    Từ phía cơ sở đào tạo: Chương trình đào tạo ĐH, cao đẳng và cả KTV chưa đúng với nhu cầu DN. Từ kết quả khảo sát, có thể thấy những kỹ năng cơ bản được xem là quan trọng trong DNPM lại có tỉ lệ đào tạo khá thấp, chẳng hạn:

    ĐH (khảo sát 9 ĐH): Tỉ lệ ĐH có đào tạo kỹ năng điều hành nhóm chỉ 33%, hiểu biết quy trình kiểm soát chất lượng 44%, có khả năng nắm bắt quy trình kinh doanh PM 33%, có khả năng thiết kế dự án PM 55%.

    Cao Đẳng (khảo sát 13 trường): Tỉ lệ trường đào tạo khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh chỉ 38%, hiểu biết về quy trình kiểm soát chất lượng 46%, kỹ năng làm việc nhóm 54%.

    KTV (khảo sát trên 11 trường): Tỉ lệ trường có đào tạo quy trình kiểm soát chất lượng PM  là 9%.

    Ngoài ra, khi DN yêu cầu sinh viên, KTV ra trường vừa biết lập trình vừa có kiến thức quản trị, kinh tế, các trường đều không đáp ứng được.

    Từ phía DN: DNPM chưa gắn kết với cơ sở đào tạo. Nhiều cơ sở đào tạo "than" DN thiếu thiện chí trong việc tạo môi trường thực tập, đào tạo thực tiễn cho sinh viên. DN thường đưa ra những nguyên nhân: cần bảo mật thông tin và công nghệ, thời gian thực tập quá ngắn không đem lại lợi ích gì cho DN mà còn ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh của DN... Kết quả là trừ một số ít trung tâm (NIIT, Hoa Sen, Informatics of Singapore) có 80% sinh viên được thực tập, tỉ lệ sinh viên được thực tập khi học ĐH chỉ có 20-30%.

    Cũng chưa có DN nào hợp tác với cơ sở đào tạo để đào tạo, phối hợp nghiên cứu, xây dựng cơ sở vật chất, chuyển giao công nghệ mới. Chỉ một số ít DN bước đầu đã đặt hàng đào tạo và tài trợ học bổng cho sinh viên.

    Từ phía Nhà Nước: Thiếu sót lớn nhất là chưa có quỹ hỗ trợ cho người học nghề. Chưa có những chính sách đẩy mạnh chất lượng đào tạo thiết lập hệ thống đánh giá tiêu chuẩn đào tạo của các cơ sở. Đặc biệt chưa nghiên cứu về chương trình CNTT dành cho chuyên viên quản lý, lãnh đạo để trở thành các CIO.

    Trách nhiệm đào tạo nguồn nhân lực CNTT vẫn chưa quy về một mối (hiện Sở GDĐT, Sở KHCN, Sở LĐ - TBXH cùng chịu trách nhiệm). Nhiều đầu mối cũng có nghĩa là... không ai chịu trách nhiệm chính.

    Giải pháp

    Trước yêu cầu gắn đào tạo với thực tế DN để cung đáp ứng cầu, phó chủ tịch thường trực UBND TP.HCM Nguyễn Thiện Nhân cho biết TP.HCM sẽ thực hiện 3 giải pháp:

    Hình thành chuỗi đào tạo hướng tới thỏa mãn tiêu chuẩn tuyển dụng của DN. Chuỗi này gồm nhiều trung tâm đào tạo liên kết với nhau, đào tạo bổ sung những kiến thức kỹ năng mà các ĐH, cao đẳng không dạy như công nghệ mới, kiến thức kinh doanh, quy trình quản lý chất lượng...

    Hình thành quỹ hỗ trợ đào tạo nghề, người học sẽ trả dần khi đi làm. Chính Phủ đã cho thành phố vay 14 tỉ đồng để thành lập quỹ.

    Lập trang web chuyên về đào tạo và việc làm CNTT tại địa chỉ www.vietnamitwork.com.vn, giao cho QTSC thực hiện.

    Về lâu dài, để không còn tình trạng thiếu mà thừa này, một số đề xuất sau của Phòng CNTT, Sở KHCN TP.HCM đáng để các cơ quan giáo dục, DN, những cơ sở đào tạo cùng suy nghĩ và thực hiện: Đưa chương trình tin học phù hợp vào trường phổ thông, cải tiến tuyển sinh ngành CNTT (thay môn hóa bằng môn ngoại ngữ, môn lý bằng môn tin học căn bản); mở rộng chương trình đào tạo từ xa; đào tạo định hướng đến thị trường cụ thể như Nhật; DN tăng cường đặt hàng cho nhà trường...

     

    NHÌN SINGAPORE, NGHĨ VỀ VIÊT NAM

     

     

    Cục Phát Triển Nguồn Lực CNTT của Singapore hàng năm đều tổ chức điều tra về nhu cầu nhân lực liên quan đến CNTT và đưa ra danh sách các kỹ năng cần được ưu tiên đào tạo. Các trung tâm CNTT (không phải do Nhà Nước đầu tư) nếu dạy các kỹ năng này và đăng ký thì sẽ được Cục xem xét về nội dung, giáo trình, chất lượng và chấp nhận. Đối với người học, ai theo học các nội dung đó tại các trung tâm được Cục chứng nhận sẽ được Nhà Nước hỗ trợ thông qua các trung tâm đào tạo tới 70% học phí. Công việc còn lại của Cục là kiểm tra cuối năm xem các trung tâm có tiêu tiền hỗ trợ đúng mục đích không. Như vậy mọi "nhà" đều có lợi! Nhà Nước lợi vì nhanh chóng có nguồn nhân lực CNTT đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, quản lý được chất lượng đào tạo; người học lợi vì được định hướng và hỗ trợ học phí; còn các trung tâm đào tạo phấn khởi vì thu dược tiền từ 2 nguồn: học viên và Nhà Nước. 
    Ở Việt Nam thì khác. Hà Nội và TP.HCM đều đã chi các khoản ngân sách khá lớn để thành lập trung tâm đào tạo CNTT. Các trung tâm đào tạo CNTT "xã hội hóa" đang hoạt động trên địa bàn trước cách làm đó thường e ngại vì vừa không được hỗ trợ gì từ phía Nhà Nước, vừa dễ bị trung tâm đào tạo của Nhà Nước thu học phí "phá giá". Người học dường như cũng không có lợi vì ít khả năng lựa chọn, do trung tâm của Nhà Nước không thể dạy tất cả các chuyên ngành mà xã hội cần được. Nhà Nước về lâu dài cũng sẽ không có lợi vì phải thuyết minh về hiệu quả tiêu tiền ngân sách - và nếu như chuyên ngành đang dạy không còn tính thời sự nữa thì "dọn rác" bao giờ cũng là việc cực nhọc.
    Thiết nghĩ chỉ nên thành lập trung tâm đào tạo CNTT bằng ngân sách Nhà Nước ở các địa phương nhỏ, nơi không có trung tâm đào tạo nào có tầm cỡ và không thể cứ ngồi chờ đợi. Còn đối với các địa phương lớn thì Singapore là một kinh nghiệm tốt cho chúng ta.
    Lê Trường Tùng

     

    Ngọc Khánh

    ID: B0409_20