• Thứ Năm, 01/09/2005 09:41 (GMT+7)

    Khơi dòng vốn Việt về nguồn

    Nguồn vốn từ ngân sách cho các đề án, dự án CNTT khoảng 600 triệu USD, nhưng năm 2004 ước tính tổng chi tiêu chỉ khoảng 190 triệu USD. Trong khi đó, chỉ tính riêng lượng kiều hối gửi về qua ngân hàng năm 2004 là trên 3 tỷ USD.

    Theo Bộ BCVT, nguồn vốn từ ngân sách trung ương cho các đề án, dự án CNTT khoảng 600 triệu USD, nhưng năm 2004 chỉ giải ngân được khoảng 95 triệu USD, cộng với chi tiêu của các ngành, địa phương, ước tính tổng cộng 190 triệu USD. Trong khi đó, chỉ tính riêng lượng kiều hối gửi về qua ngân hàng năm 2004 là trên 3 tỷ USD. Điều này cho thấy tiềm năng to lớn của nguồn lực cộng đồng người VN ở nước ngoài cần được khai thác.

    Trí thức kiều bào - nguồn lực CNTT quý giá

    Những năm trước, phần lớn chuyên gia trí thức về VN từ các nước Tây Âu và Nhật Bản. Gần đây, ngày càng có nhiều người Việt trở về từ các quốc gia Mỹ, Úc, Canada. Những nhân tố chủ yếu tạo nên sự thay đổi này là chính sách mở cửa của Nhà Nước, môi trường đầu tư, năng lực chuyên môn và tình cảm, mối liên hệ cá nhân của trí thức kiều bào với trong nước.

    Trong lĩnh vực công nghiệp CNTT-TT, VN đạt tốc độ phát triển trung bình 25%/năm, năm 2004 tổng giá trị đạt trên 2,2 tỉ USD. Tính riêng TP.HCM, năm 2000, thành phố chỉ có khoảng 100 DN CNTT (phần mềm, phần cứng, dịch vụ tin học), tổng doanh số ước đạt 150 triệu USD; thì nay có hơn 1.000 DN hoạt động trong lĩnh vực CNTT-TT, tổng doanh số CNTT-TT 2005 ước đạt 610 triệu USD, tốc độ doanh số phần mềm bình quân từ 2001- 2005 tăng khoảng 30%/năm, phần cứng 20%/năm.

    Theo thống kê, hiện có khoảng 300.000 chuyên gia, trí thức Việt Kiều (VK) chiếm gần 10% cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Trong số đó, trí thức VK hoạt động trong lĩnh vực CNTT & TT chiếm lượng đáng kể. Chỉ riêng tại Thung Lũng Silicon ở Mỹ - được xem như kinh đô của ngành CNTT-TT thế giới - có hơn 10.000 người Việt làm việc.

    Mỗi năm có khoảng 300 kiều bào trí thức về nước làm việc, trong đó nhiều người giữ những vị trí quan trọng trong các chi nhánh của các tập đoàn đa quốc gia. Hiện đã có 1.630 dự án của kiều bào đầu tư vào VN với số vốn gần 30 tỷ đồng và 600 triệu USD. Đặc biệt đầu tư kiều hối đang có xu hướng chuyển dịch sang các lĩnh vực công nghệ cao như CNTT, công nghệ phần mềm.

    Riêng sự đóng góp của VK trong lĩnh vực CNTT-TT tại TP.HCM có thể xem là mạnh nhất trên cả nước. Thành phố hiện có 180 DN VK đầu tư hoạt động trong lĩnh vực CNTT-TT với 1.380 dự án. Trong 10 doanh nghiệp nhiều lao động nhất thành phố đã có 3 doanh nghiệp có VK tham gia điều hành. Điển hình như ông Nguyễn Hữu Lệ (VK Canada), về nước năm 2000, đã tham gia điều hành công ty phần mềm PSV và sau đó là công ty TMA. TMA phát triển từ 7 nhân viên năm 1997 đến nay có trên 500 lao động. Ông Nguyễn Thịnh (VK Mỹ), giám đốc công ty PSD và ông Trịnh Xuân Lạc (VK Mỹ), giám đốc công ty Arrive Technologies, đã góp phần hình thành Trung Tâm Thiết Kế Điện Tử Cadence (trị giá 500.000 USD) của TP.HCM. Ông Nguyễn Ngọc Mỹ (VK Úc) đã được Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc VN tuyên dương “Vinh danh Đất Việt”, có nhiều hoạt động đầu tư ở VN, trong đó có công ty TNHH Phần Mềm Tiếp Thị Thể Thao đặt tại Công Viên Phần Mềm Quang Trung. Ông Nguyễn Văn Sáu (VK Mỹ), hiệu trưởng trường Saigon Tech và nhiều VK khác như Đỗ Bá Phước (VK Mỹ), Hà Dương Tuấn (VK Mỹ), Hồ Văn Tiến (VK Thụy Sĩ), GS. Phan Việt Hoàng, TS. Trần Xuân Phước, TS. Thái Hùng Lam (VK Mỹ) đã chủ động tổ chức các khóa đào tạo và tham gia đào tạo CNTT ở thành phố.

    Tuy nhiên, đóng góp của kiều bào đối với đất nước còn khiêm tốn so với tiềm năng của nguồn lực này. Chỉ một số ít VK chính thức đầu tư tại VN, còn phần lớn họ về nước làm việc ngắn hạn, tự túc, kết hợp thăm thân nhân và tham gia giảng dạy, seminar...; quan hệ chủ yếu với các cơ quan, trường - viện, về theo lời mời trong các chương trình hợp tác song phương; thực tế quan hệ hợp tác với doanh nghiệp còn rất hạn chế...

    Làm sao khai thác?

    Hội nghị “Cộng đồng người VN ở nước ngoài với sự nghiệp phát triển CNTT-TT nước nhà” được tổ chức tại TP.HCM vừa qua là cơ hội cho các trí thức kiều bào đóng góp ý kiến, bày tỏ tâm tư, nguyện vọng đối với sự nghiệp phát triển CNTT & TT nước nhà; đồng thời cũng là dịp Chính Phủ và các bộ, ngành các cấp hiểu rõ hơn tiềm năng của nguồn lực này trong việc xây dựng chiến lược.

    Qua các tham luận, ý kiến đóng góp tại hội nghị, các đại biểu đã nêu lên những vấn đề cần giải quyết nhằm thu hút nguồn lực này. Phần lớn các văn bản liên quan đến trí thức kiều bào mới dừng ở chủ trương, hầu như chưa có chính sách, biện pháp cụ thể tạo điều kiện hỗ trợ trí thức kiều bào, tạo động lực cho VK làm việc với DN, nhất là DN tư nhân, chưa xây dựng đầu mối mang tầm quốc gia để vận động các chuyên gia, trí thức trở về. Một số chính sách thủ tục phức tạp, điều kiện sinh hoạt (nhà ở, phương tiện vận chuyển, học tập và y tế...) và thời hạn visa (tối đa 6 tháng) cũng là những yếu tố hạn chế kiều bào trở về. Các VK đã đề nghị việc triển khai chính sách phải đồng bộ và quyết liệt, tạo điều kiện thuận tiện trong việc cấp visa, quốc tịch, tạo môi trường đầu tư thông thoáng, ổn định, xem xét lại một số điểm trong Nghị Định 88 (về tổ chức, hoạt động và quản lý hội) cho phép VK tham gia vào các hội, đoàn trong nước, có cơ chế để VK đóng góp trực tiếp vào các chương trình, dự án CNTT. Đặt biệt, nhiều giáo sư mong muốn được hoạt động nghiên cứu, giảng dạy ở các trường đại học chứ không đơn thuần là tư vấn. Tại hội nghị nói trên, các VK đã đề xuất Nhà Nước thành lập các tiểu ban chuyên trách theo từng lĩnh vực để thu thập, cung cấp thông tin nhu cầu trong nước cần huy động sự đóng góp của VK, tạo điều kiện cho VK môi giới DN trong nước đưa sản phẩm ra nước ngoài.

    Trước những thông tin bổ ích cũng như tình cảm sâu sắc của đại biểu VK, lãnh đạo các đơn vị tổ chức hội nghị năm nay, Thứ Trưởng Bộ BCVT và Phó Chủ Tịch thường trực UBND TP.HCM đều thống nhất nên tổ chức hội nghị VK lĩnh vực CNTT-TT thường niên luân phiên ở các địa phương, trước mắt là các thành phố lớn. Đồng thời, để ý kiến tại hội nghị không đi vào quên lãng, trước mắt website của Sở BCVT TP.HCM (www.ict-hcm.gov.vn) sẽ là địa chỉ tiếp nhận ý kiến, tâm tư tình cảm của VK. Về lâu dài, để duy trì cung cấp thông tin hai chiều, Bộ BCVT sẽ thành lập cổng giao tiếp điện tử. Đây sẽ là cầu nối của giới CNTT-TT trong và ngoài nước, cung cấp văn bản, qui định về luật, thông tin về điều kiện đầu tư trong nước để VK yên tâm tiếp tục về đầu tư. ÿ

    Nguồn số liệu trong bài: Hội nghị “Cộng đồng người VN ở nước ngoài với sự nghiệp phát triển CNTT-TT nước nhà” tại TP.HCM ngày 20/8/2005.

    Nhữngcông việcVK có thể đóng góp cho sự phát triển CNTT-TT trong nước:

    - Là lực lượng chuyên gia trình độ cao có thể làm nòng cốt cho các tổ chức/doanh nghiệp trong nước.

    - Làm cầu nối trong nước và nước ngoài nhằm hỗ trợ phát triển thị trường quốc tế cho VN.

    -Hỗ trợ xây dựng thương hiệu cho công nghiệp CNTT VN.

    - Đầu tư trực tiếp vào công nghiệp CNTT.

    -Tham gia đầu tư/hỗ trợ nghiên cứu phát triển, chuyển giao công nghệ

    -Phát triển nguồn nhân lực CNTT.

    -Đóng góp xây dựng chiến lược phát triển.

    Cần ưu tiên hỗ trợ VK đầu tư
    Ông Phùng Nhượng Giang - VK Úc, giám đốc điều hành DMX Technologies (Singapore), chuyên về thiết bị mạng.

    Từ 2 năm trước, tôi bắt đầu tìm hiểu thị trường VN để đầu tư trong lĩnh vực phần mềm, công nghệ mạng, công nghệ di động. Cách đây 8 tháng, tôi bắt đầu làm thủ tục đầu tư tại VN. Tuy nhiên, tôi đã gặp phải một số rắc rối xung quanh thủ tục cấp phép: quá chậm và phức tạp. Bởi vì tôi đã bị mất giấy khai sinh từ nhỏ nên phải mất thời gian nhờ người thân làm lại giấy tờ rồi mới xin cấp giấy chứng nhận VK. Hiện tôi đã nộp đơn, đang đợi cấp. Khi đó, tôi mới được mở công ty.

    Tôi đã thuê nhà để làm văn phòng công ty về công nghệ mạng, đã nói chuyện với luật sư để thảo bản thỏa thuận xin mở một công ty phần mềm, dự định khai trương vào tháng 10 nhưng có lẽ không kịp. Muốn làm công ty cổ phần hóa phải có giấy chứng nhận VK rồi mới có thể trở thành một thành viên. Thứ hai, khi làm liên doanh, đối tác ở VN chưa làm liên doanh lần nào nên việc thương thảo rất lâu. Tôi hy vọng là mọi việc sẽ được nhanh chóng tháo gỡ. Chắc là đến quý 1/2006 tôi mới thực hiện được.

    Tôi đã chuẩn bị nguồn vốn tại Singapore, nhưng những cản trở về thủ tục này khiến vốn của tôi bị ứ đọng.

    Với tôi, cơ hội để đầu tư tại VN là rất lớn vì tốc độ phát triển kinh tế tại VN rất cao, chỉ sau Trung Quốc.

    Nếu so sánh với thị trường các nước Đông Nam Á, Ấn Độ, Trung Quốc về nguồn nhân lực, tài sản... thì VN không bằng được Trung Quốc, Ấn Độ, nhưng không thua kém các nước ASEAN, có chăng là thua về thời gian. Nhưng trong vài năm tới, mình sẽ vượt bậc, đuổi kịp họ, ít nhất là bằng hoặc vượt họ. Xét dưới góc độ đầu tư, tại VN cơ hội là rất lớn nhưng cũng không ít rủi ro, nổi bật là tỷ lệ nhân viên nghỉ việc (turnover).

    Thủ tục cần nhanh và thoáng hơn
    Frank Ngọc Phạm - VK Mỹ

    Tôi là VK Mỹ muốn về VN làm ăn vì gia đình tôi đều ở VN. Tôi quan tâm đến lĩnh vực kinh doanh phần cứng, phần mềm. Cơ chế, chính sách của Nhà Nước VN trên giấy thì rất rõ ràng, nhưng khi cấp dưới áp dụng lại thêm cái này, bớt cái kia, gây rắc rối cho nhà đầu tư. Chẳng hạn, chỉ để đăng ký đường truyền ADSL, tôi đã phải đi tới đi lui ba bốn lần, xin giấy, rồi bổ túc, chỉnh sửa hồ sơ... Bức xúc nhất là những vấn đề tôi chưa hiểu, chưa nắm, cần hỏi thì họ chỉ giải thích được một phần rồi chỉ sang người khác... giải thích tiếp! Một vấn đề khi cần liên hệ với chính quyền, tôi mất ít nhất ba lần mới xong. Trong khi những sản phẩm CNTT cần chuẩn bị kinh doanh thay đổi rất nhanh, nếu cứ chờ khi thủ tục hoàn tất thì sản phẩm đã lạc hậu.

    Nếu không phải là người VN thì tôi không về nước
    Ông NGUYỄN NGỌC THỊNH, chủ tịch hội đồng quản trị và giám đốc điều hành công ty Pyramid Software Development (PSD), thành lập tháng 4/2001, 100% vốn nước ngoài. PSD chuyên gia công các giải pháp về eCommerce, SMS, Wifi.

    Tôi đã từng làm việc trong ngành CNTT hơn 22 năm ở Mỹ và 3 năm tại VN. Công bằng mà nói, ngành CNTT ở VN tiến bộ rất nhanh trong 5 năm vừa qua trên cả số lượng lẫn chất lượng. Đến năm 2005, đã có nhiều công ty gia công phần mềm (software outsourcing) có đến vài trăm kỹ sư với doanh thu mỗi năm lên đến hàng triệu USD, cũng như đã có nhiều công ty phần mềm đạt được tiêu chuẩn CMM/CMMI. Cho dù thành công hay thất bại, các DN ở VN cũng đã góp phần rất lớn trong việc khai phá và xây dựng môi trường đầy tiềm năng này.

    Tôi được biết, hơn một nửa số DN CNTT ở TP.HCM đều khởi đầu bằng sự đóng góp cả về mặt tài chính lẫn kỹ thuật của Việt kiều. Đây là một ngành công nghệ mà Việt kiều đã đóng góp rất nhiều, trực tiếp và gián tiếp. Trực tiếp như góp phần đào tạo, đầu tư, điều hành doanh nghiệp; gián tiếp như giúp đỡ DN VN tìm hợp đồng và đề án tốt ở nước ngoài.

    Trước khi về VN tôi sinh sống và làm việc ở vùng Silicon Valley, California. Tại tâm điểm của ngành công nghệ cao này, người Việt làm việc rất nhiều. Đến khoảng cuối thập niên 90, cộng đồng người Việt trong vùng này đã trưởng thành và tiếp thu kinh nghiệm điều hành, kiến thức kỹ thuật và vốn đầu tư. Tương tự như vậy, người Việt ở Nhật, Châu Âu và các tiểu bang khác ở Mỹ cũng đã nắm được những địa vị quan trọng trong ngành CNTT tại nơi họ sinh sống. Họ chính là những nhà đầu tư tiềm năng của VN. Nhưng ngược lại, họ rất có thể đầu tư vào bất cứ nơi nào trên thế giới bởi nếu so sánh với các quốc gia trong vùng, VN vẫn là nước đi sau về CNTT. Đừng nói đến Ấn Độ và Trung Quốc, ngay cả Thái Lan và Philippines cũng đã phát triển mạnh hơn chúng ta trong ngành này.

    Tôi cũng đã tìm hiểu chính sách thu hút FDI của các nước như Bangalore và New Delhi, Ấn Độ hay Đại Liên, Thượng Hải, Trung Quốc. Thành thực mà nói, nếu tôi không phải là người VN thì tôi không làm ở VN. Tuy nhiên, về mặt phong tục tập quán, văn hóa, VN vẫn quen thuộc nhất. Đến nay, tuy chính sách chưa phù hợp lắm, nhưng tôi xin nhấn mạnh là đối với người Việt, không có môi trường kinh doanh nào lợi thế bằng ở ngay quê hương bản xứ.

    Theo tôi, Nhà Nước cần giảm giá thuê văn phòng, điện thoại, Internet. Vì PSD có khách hàng ở nước ngoài nên thường phải gọi điện thoại liên lạc ra nước ngoài. Mặc dù ngành CNTT có những công nghệ cho phép gọi điện thoại qua Internet rẻ tiền như VoIP, nhưng theo tập quán kinh doanh cũng như qui định của luật pháp, chúng tôi vẫn phải dùng điện thoại truyền thống. Tuy nhiên, cước điện thoại còn quá cao, cứ gọi cho khách hàng ở Mỹ 15 phút là chúng tôi mất 50 USD; giá cước Internet của VN cũng còn cao.

    Thứ hai, luật cần thực tế hơn một chút, chặt chẽ hơn để tạo niềm tin cho các nhà đầu tư. VN có luật chỉ cho phép 3% người nước ngoài lao động tại VN. Nếu như thuê được người VN, thì còn gì hơn. Nhưng trong những trường hợp nhân lực VN chưa đủ năng lực đáp ứng yêu cầu công việc, dẫn đến nhu cầu thuê chuyên gia nước ngoài.

    VN không thiếu lợi thế cạnh tranh để thu hút Việt kiều đầu tư, đây lại là mảnh đất quê hương của họ. Có điều chúng ta cần gấp rút nâng cao lợi thế cạnh tranh, khắc phục sớm nhược điểm. Cần có chương trình làm việc đều đặn giữa DN đang hoạt động và Chính Phủ để cùng tháo gỡ vướng mắc nảy sinh.

    Về mặt nguồn nhân lực, các trường ĐH nên tổ chức những chương trình ngắn hạn, hỗ trợ chi phí thi các bằng cấp, chứng chỉ trong nghề cho các kỹ sư CNTT. Về lâu dài, thay đổi nội dung giảng dạy ĐH. Tôi chưa thấy có ĐH nào dạy cho sinh viên cách làm việc nhóm. Tôi mong muốn nhà nước có những chính sách để khuyến khích lao động đến làm việc tại các khu công viên PM xa thành phố như Công Viên PM Quang Trung. Hiện nay, tôi chủ yếu phải thuê lao động ở khu vực lân cận (Quận 12, Gò Vấp).

    Đại Nguyên - Yên Khê - Ngọc Khánh

    ID: B0509_30