• Thứ Năm, 01/09/2005 09:41 (GMT+7)

    Chất xám Việt kiều và đào tạo nguồn lực

    Nguồn lực CNTT chính là nền tảng để phát triển CNTT-TT. Cần những biện pháp gì để lực lượng chuyên gia Việt kiều đông đảo trên khắp thế giới cùng góp sức giải bài toán tăng chất và lượng nhân lực CNTT trong nước?

    Nguồn nhân lực CNTT chính là nền tảng để phát triển CNTT-TT, là ưu điểm nhưng cũng là nhược điểm khi kêu gọi đầu tư CNTT tại VN. Giải bài toán tăng chất và lượng nhân lực CNTT trong nước, chúng ta cần những biện pháp gì để lực lượng chuyên gia Việt kiều (VK) lĩnh vực CNTT - VT đông đảo trên khắp thế giới cùng góp sức?

    Khắc phục tình trạng nguồn nhân lực CNTT thiếu và yếu luôn là một đề tài được nhắc đến trong mọi cuộc họp bàn về chiến lược phát triển CNTT VN. PGS.TS Nguyễn Minh Dân, vụ trưởng KHCN Bộ BCVT cho biết tình hình đào tạo CNTT tại VN: Năm 2004, VN có 62 ĐH, 74 trường cao đẳng đào tạo CNTT, số cơ sở đào tạo CNTT phi chính quy tăng khá nhanh với 69 cơ sở. VN cũng đã hình thành một số trung tâm đào tạo từ xa. Số lượng cử nhân, kỹ sư CNTT đào tạo được năm 2004 là 10.000 người. Riêng tại TP.HCM, Phó Chủ Tịch TP.HCM Nguyễn Thiện Nhân cho biết: qua 5 năm, thành phố có thêm khoảng 15.000 chuyên viên CNTT -TT, trong đó trình độ ĐH, cao đẳng khoảng 3.000, thạc sĩ 200.

    Tuy nhiên, các lãnh đạo cũng như doanh nghiệp ngành CNTT đều công nhận nhân lực CNTT được đào tạo hiện nay rất thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, hạn chế trong khả năng làm việc nhóm và ngoại ngữ. Trong đó, lực lượng chuyên gia quản trị dự án, thiết kế giải pháp thiếu hụt trầm trọng sẽ là trở lực lớn nhất cho VN trong việc tiếp nhận các dự án đầu tư lớn từ bên ngoài.

    Tăng nguồn nhân lực CNTT-TT đạt trình độ quốc tế là một trong 4 mục tiêu lớn được Bộ BCVT đặt ra trong chiến lược phát triển CNTT-TT đến 2010. Trong đó, con số kỳ vọng là 100.000 người có trình độ cao đẳng và ĐH trở lên về CNTT-TT, khoảng 20% trong số này đạt trình độ khu vực và quốc tế. Bộ đưa ra các giải pháp sau để thực hiện mục tiêu đề ra:

    - Rà soát, biên soạn chương trình đào tạo CNTT-TT, tăng tỷ lệ thực hành.

    - Khuyến khích các ĐH giảng dạy CNTT-TT bằng tiếng Anh.

    - Có chính sách thu hút chuyên gia giỏi về CNTT-TT từ nước ngoài vào VN giảng dạy, đào tạo.

    - Sửa đổi luật giáo dục, xã hội hóa đào tạo.

    - Cho phép thành lập cơ sở đào tạo CNTT-TT 100% vốn nước ngoài.

    Trong các giải pháp đã được nêu ra, nguồn lực chuyên gia VK CNTT -TT sẽ đóng vai trò không nhỏ. Nhưng làm thế nào tạo điều kiện cho nguồn chất xám xa quê này phát huy hiệu quả trong lĩnh vực đào tạo? Dưới đây là ý kiến của chính các chuyên gia VK.

    Đầu tư 500 triệu USD để có 50.000 quản trị dự án

    Ông Nguyễn Trọng Nguyễn, VK Mỹ, giám đốc điều hành CLB doanh nghiệp VK, tổng giám đốc công ty cổ phần OV.Tech

    Để giải bài toán phát triển nhân lực CNTT, tôi mong muốn đề xuất Nhà Nước thực hiện một đề án đầu tư dài hạn nhằm đưa chuyên gia VK CNTT-TT về nước giảng dạy.
    Chuyên gia VK có trình độ quản trị dự án (project manager) trên thế giới không thiếu và họ rất tâm huyết với nguyện vọng chuyển giao công nghệ cho kỹ sư trong nước. Một quản trị dự án có khả năng đào tạo, chuyển giao công nghệ tiên tiến cho 25 kỹ sư trong nước/năm thông qua dự án thực tế! Như vậy nếu chúng ta cần 50.000 kỹ sư trình độ quốc tế, chỉ cần mời 2.000 chuyên gia VK.

    Đầu tư cho mỗi chuyên gia VK về VN cần khoảng 5.000 USD/tháng. Trong đó, 1.000 USD/tháng/người cho tiền nhà tiền ăn, 2.000 USD/tháng/người để chi tiêu, 2.000 USD/tháng/người gửi về gia đình (Đề nghị mức thuế tối thiểu thu nhập là 10%) . Như vậy với 2.000 chuyên gia, ta có tổng số tiền cần đầu tư là 120 triệu USD/năm.

    Riêng kỹ sư được đào tạo cũng cần có lương, giả sử lương của họ là 8.000 USD/người/năm, với 50.000 người chúng ta cần 400 triệu USD/năm.

    Như vậy tổng cộng cần 520 triệu USD/năm (120 triệu USD/năm cho chuyên gia VK hướng dẫn + 400 triệu USD/năm lương cho kỹ sư), chúng ta có thể có được 50.000 quản trị dự án tương đối có kinh nghiệm và kiến thức công nghệ tiên tiến.

    Tuy nhiên bài toán ở đây không phải chỉ là hơn 500 triệu USD đầu tư. Vì VK về nước có khả năng lôi kéo các hợp đồng gia công. Giả sử chúng ta thu được 150-200 triệu USD từ các hợp đồng này/năm. Sau 5 năm năm, có thể thu hồi vốn đầu tư ban đầu.

    Với bài toán lớn và dài hạn như vậy, Nhà Nước cần làm đầu tàu, điều phối phân bổ chỉ tiêu đào tạo cho 1 nhóm (consosium) từ các cơ quan đến viện nghiên cứu, ĐH và công ty tư nhân trong ngoài nước phối hợp thực hiện. Làm thế nào để thực hiện? Nhà nước có thể ấn định con số đầu tư cho một số DN, viện, trường và khoán thầu cho họ. Biện pháp đầu tư có thể là tiền mặt, khấu trừ thuế, hỗ trợ giá cơ sở hạ tầng, viễn thông.

    Vì sao cần có mặt DN trong kế hoạch này? Vì đây là kế hoạch huấn luyện dựa trên thực hiện dự án công nghệ thực tế. Mà chỉ có DN và các trung tâm nghiên cứu với sự năng động vốn có mới có thể nhận lãnh, tìm kiếm hợp đồng. Cơ quan chủ trì, điều phối thực hiện chương trình này không ai khác nên là Bộ BCVT.

    Đây chỉ là một bài toán phát triển nguồn nhân lực CNTT trong nước được tôi ấp ủ nhiều năm qua và không hề viển vông. Tôi biết anh em VK tại Silicon Valley có nhiều bằng sáng chế còn hơn tập đoàn IBM, họ hoàn toàn có thể trở thành những nhà chuyển giao công nghệ rất tốt với trí tuệ VN đã được nhiều người nhắc đến. Tuy nhiên, để hội tụ trí tuệ trong và ngoài nước, đào tạo nhiều chuyên gia giỏi trong thời gian ngắn chúng ta cần sự quyết tâm đầu tư.

    Nhân lực thích ứng nhanh
    Ông Trịnh Xuân Lạc - VK Mỹ, tổng giám đốc Arrive Technologies Vietnam:


    Chiến lược của Arive Technologies là tạo ra sản phẩm sáng tạo, đột phá nhưng tốn kém ít nhất và có kế hoạch duy trì hoạt động của công ty ngay cả khi sản phẩm tiêu thụ chậm. Trong đó, nguồn nhân lực VN là một lực lượng chính để nghiên cứu, phát triển dưới sự hướng dẫn và dìu dắt của đội ngũ chuyên gia hàng đầu ở nước ngoài. Qua 5 năm họat động, số tiền AT đầu tư về VN chỉ khoảng 10 triệu USD. Tuy nhiên, đội ngũ chuyên gia trong nước của công ty đã có nhiều kinh nghiệm và có thể làm việc, đáp ứng yêu cầu.

       

    Tôi đã ở VN 5 năm nhưng... nhà vẫn là khách sạn. Tôi vẫn chưa được mua nhà! Tuy nhiên, điều đó không ngăn được mong muốn phát triển của AT tại VN.

     

    Công ty chúng tôi thành lập năm 2001, chuyên nghiên cứu, phát triển, thiết kế, tư vấn và gia công phần cứng, phần mềm trong lĩnh vực linh kiện bán dẫn viễn thông. Ngân sách họat động khoảng 5 triệu USD. Từ 2003, ATVN chính thức tập trung vào thị trường sản phẩm ứng dụng trong mạng truyền dẫn viễn thông mức thâm nhập & đô thị (Metro/Access market). Đội ngũ thực hiện chương trình gồm 75 kỹ sư thiết kế, chủ yếu tốt nghiệp ĐH Bách Khoa. Có hai Việt kiều về để hướng dẫn kỹ thuật. Các công đoạn sau cùng tạo nên sản phẩm đang được khẩn trương thực hiện. Sắp tới công ty sẽ ra mắt thị trường sản phẩm AT4848, là hệ thống đa dịch vụ tích hợp cao trên vi mạch (MS ADM SoC), ứng dụng trong mạng truyền dẫn viễn thông.

    Hãy đánh thuế chúng tôi để đầu tư vào chất xám Việt

    Ông Nguyễn Đăng Tiến - VK Mỹ, đồng sáng lập và phó chủ tịch hội đồng quản trị công ty cổ phần Định Gia Net, chuyên về giải pháp ERP, tư vấn, đào tạo.

    Năm 1998, nhà nước VN có chính sách mời VK về nước. Từ 1995, tôi đã về VN tìm hiểu và trở thành một trong những VK đầu tiên được hưởng chính sách ưu đãi VK. Tôi quyết định về VN vì 2 lý do: Một, cảm thấy không khí, con người gần gũi hơn trong cuộc sống khi trở về với gốc gác. Hai, đứng về mặt kinh doanh, nhu cầu của VN rất lớn trong khi cung lại tương đối ít. Tôi nghĩ đây là cơ hội cho những VK có khả năng và kiến thức.

    Chính sách ưu đãi cho chúng tôi hồi đó chỉ là cấp phép, cho phép VK được đứng tên trong DN. Còn những thủ tục phía dưới khá rườm rà. Ngoài ra, thủ tục về thị thực, ăn ở rất khó khăn trong thời gian đó.

    Thời gian qua, than phiền về chi phí viễn thông hay thủ tục trong nước chỉ được giải quyết từ từ. Đó là cách giải quyết từ ngọn. Muốn làm tận gốc để thu hút đầu tư, Chính Phủ cần chú ý các điểm sau:

    - Tạo những điều kiện tốt cho nhà đầu tư chuyên về đào tạo nguồn nhân lực. Chính nguồn nhân lực CNTT là cơ sở để các công ty CNTT quyết định vào VN làm việc. Mặc dù chúng ta có Aptech, Tata Infotech, NIIT, Cisco Systems, Microsoft, Oracle... nhưng theo tôi vẫn chưa đủ.

    - Tạo điều kiện thu hút chất xám VK về nước làm việc, giải quyết cho họ những vấn đề về thủ tục, đi lại, ăn ở.

    - Đầu tư nguồn nhân lực trong nước, đồng thời hỗ trợ các sản phẩm trong nước. Chẳng hạn, như Trung Quốc, bắt buộc các công ty nhà nước sử dụng sản phẩm tạo ra trong nước. Có lẽ Chính Phủ nên hỗ trợ các nhân viên và sinh viên trong ngành CNTT-TT thi lấy những bằng cấp, chứng chỉ CNTT để tăng cường chất xám. Số tiền này có thể là tiền thuế mà các công ty CNTT hoạt động tại VN đóng. Những công ty CNTT như chúng tôi có khả năng và không ngại đóng thuế. Còn nếu như Chính Phủ không đánh thuế chúng tôi nhưng cũng không đầu tư hỗ trợ chất xám trong nước, thì các công ty CNTT cũng không có đủ nhân lực để làm việc và phát triển.

    ID: B0509_35