• Thứ Tư, 07/12/2005 16:28 (GMT+7)

    Những "cựu chiến binh" OLYMPIC

    Một trong những người đoạt giải Olympic tin học quốc tế (THQT) cho rằng đó chỉ là một bằng chứng cho thấy mình có một chút khả năng, nếu sau đó không cố gắng học tập và làm việc thì cũng "không đi đến đâu". Tuy vậy, dư luận vẫn đánh giá cao thành tích của họ, đặt nhiều hy vọng vào họ, và cũng muốn biết họ đã "đi đến đâu" sau khi đoạt giải.

    Tắm "ao nhà" hay "ao thiên hạ"?

    Cứ theo lời thầy Nguyễn Xuân My ở Khối Phổ Thông Chuyên Toán – Tin, ĐH Khoa Học Tự Nhiên (ĐH Quốc Gia Hà Nội), thì chúng tôi phải "xin toà soạn cho đi nước ngoài, may ra mới gặp được những học sinh đoạt huy chương Olympic THQT". Tuy nhiên, sau những cố gắng tìm kiếm, chúng tôi cũng gặp được 2 người đang làm việc trong nước. Một là TS Nguyễn Việt Hà, sinh năm 1974, Huy Chương Đồng (HCĐ) năm 1990, nay là phó trưởng khoa CNTT, chủ nhiệm bộ môn Công Nghệ Phần Mềm, ĐH Công Nghệ (ĐHQG HN). Hai là TS Bùi Thế Duy, sinh năm 1978, HCĐ 1996, đang là phó chủ nhiệm bộ môn Mạng và Truyền Thông Máy Tính, ĐH Công Nghệ (ĐH QGHN). TS Bùi Thế Duy cho biết: "Ngoài hai chúng tôi, hầu như chẳng còn HS cũ nào của khối Chuyên Toán - Tin đoạt Olympic THQT mà còn ở trong nước".

     
    Đội tuyển Olympic tin học Quốc tế Việt Nam năm 1996. Từ trái sang: Nguyễn Thúc Dương, Phan Việt Hải, Nguyễn Hoàng Dũng, Bùi Thế Duy.
    Điều đó thật dễ hiểu. Với khả năng của mình, những người từng đoạt Olympic THQT có thể dễ dàng tìm được một công việc tốt ở nước ngoài. Đồng thời, chính phủ và các tổ chức, doanh nghiệp ở các nước phát triển cũng đang thu hút rất mạnh nguồn nhân lực chất lượng cao từ các nước khác. Điều kiện làm việc, chế độ lương bổng của họ rất hấp dẫn. TS Lê Sĩ Quang, sinh năm 1977, HC Bạc 1995, đang làm việc tại Viện Nghiên Cứu Quốc Gia Pháp và ĐH Montpellier 2 cho biết, các trang thiết bị nơi anh làm việc rất đầy đủ. Đến nỗi "nếu cho mình yêu cầu thì cũng không biết nên yêu cầu thêm thứ gì!".

    Theo TS Nguyễn Thúc Dương, sinh năm 1979, HCĐ 1996, đang làm việc tại công ty British Telecommunications (BT) của Anh, môi trường làm việc của công ty giúp anh có cơ hội phát huy khả năng của mình. Trong công ty, mọi người đều bình đẳng, không kể tuổi tác, học vị, thời gian làm việc... Trong các cuộc họp, nếu một người có sáng kiến hay, một ý nghĩ độc đáo thì tất cả mọi người sẽ cùng lắng nghe và tranh luận. Nếu như sáng kiến đó có giá trị sử dụng, người đề xuất sẽ được tạo điều kiện để phát triển nó bằng nhiều cách. Trong công việc, ai mạnh về phần nào sẽ được làm phần đó, nếu cần trang thiết bị hay tài liệu, cần hợp tác với một công ty hay trường khác, sẽ được giúp đỡ. Theo đánh giá của Dương, môi trường ở BT giúp người làm việc được tiếp xúc và học hỏi nhiều, được chứng kiến những công nghệ mới và tham gia phát triển chúng. "Môi trường làm việc ở đây rất thoải mái, linh động về thời gian, chủ yếu mỗi người phải tự quản lý công việc của mình. Thế nên tôi có thể thu xếp kế hoạch hàng ngày của mình khá tốt" - Nguyễn Thúc Dương cho biết.

    Về môi trường làm việc thì chắc khó có chỗ nào hơn được Microsoft (Mỹ), nơi Vương Phan Tuấn, HCB 1997 đang làm việc trong vai trò lập trình viên. Tuấn kể: Hồi mới vào, anh bị nhức mắt liên tục vì phải nhìn màn hình. Sếp của anh nhanh chóng cho mua 2 cái lọc màn hình. "Tưởng là chuyện nhỏ, nhưng khi nhìn hoá đơn gần 280 USD, mới thấy công ty rất quan tâm đến những chi tiết nhỏ nhất để mình làm việc hiệu quả”. Nhưng điều mà Tuấn thích nhất ở Microsoft là "công ty cho mình thẻ thành viên của trung tâm thể thao và trả tiền phí đá bóng cho những cầu thủ trong đội bóng của mình". Điều này cho thấy Microsoft chú ý chăm sóc phần vui chơi, giải trí, tinh thần của nhân viên rất tốt.

    Song, thực tế đó dường như không ảnh hưởng gì đến hai vị TS trẻ đang làm việc trong nước. Bùi Thế Duy thấy mọi việc đều ổn, chỉ có điều làm việc ở trong nước phải cố gắng hơn, vì điều kiện đương nhiên không bằng nước ngoài. Còn Nguyễn Việt Hà thì nói: "Tôi thấy nghề giáo phù hợp với mình. ĐH Công Nghệ cũng là một trường tốt, đồng nghiệp giỏi, sinh viên xuất sắc". Anh không có ý định đi đâu khác.

    Về thì dở, ở thì băn khoăn

    Trong khi đó, nhiều người ở nước ngoài lại rất muốn về Việt Nam. Mặc dù công việc hiện tại hấp dẫn, nhiều thách thức, và nếu muốn thì cũng có thể đến nhiều nước khác, nhưng Vương Phan Tuấn cho biết anh vẫn luôn hướng về Việt Nam và tìm kiếm một việc làm thích hợp ở trong nước. "Tôi luôn xác định về nước làm việc để được "tắm ao nhà". Có lẽ không có gì quý hơn là được đóng góp cho sự phát triển của quê hương" – anh khẳng định.

    Trong tương lai, Lê Sĩ Quang (Pháp) cũng xác định là sẽ về nước và mong muốn tiếp tục làm việc ở khoa CNTT, ĐH Công Nghệ (ĐHQG HN). Anh nói: "Trước sau gì tôi cũng sẽ về Việt Nam để sống và làm việc".

    Mặc dù xác định như vậy, nhưng đường về của họ nhiều khi không thuận lợi. Lê Sĩ Quang thấy lo ngại về công việc và cuộc sống khi về Việt Nam. Anh tâm sự: "Tuy mức thu nhập của người làm nghiên cứu ở Pháp không cao, nhưng mình hoàn toàn có thể yên tâm tập trung làm việc. Mỗi buổi sáng thức dậy, điều mình nghĩ đến là việc nghiên cứu chứ không phải là cơm áo gạo tiền. Chỉ sợ khi về Việt Nam, mình không có được điều kiện đó. Nếu chỉ ngồi nghiên cứu không ở Việt Nam thì cuộc sống chắc sẽ khó khăn, nhưng lao vào kiếm tiền thì chắc không còn nghiên cứu được nữa. Đó có lẽ là trăn trở lớn nhất của mình hiện nay". Nhiều người Việt trẻ ở nước ngoài, nhất là giới nghiên cứu, có cùng suy nghĩ như Quang. Có lẽ vì thế mà Nguyễn Thúc Dương chưa tính đến chuyện về nước. Mặc dù thích cuộc sống ở nhà, gặp gỡ bạn bè sau giờ làm việc, nhưng hình như Dương muốn ở lại hơn, vì "công việc và môi trường làm việc ở BT chuyên nghiệp và tạo được sự say mê, hứng thú”. Những người trong nước như Bùi Thế Duy cũng rất hiểu điều đó. Theo Duy: "họ không về là do họ yêu nghề"!

    Theo tâm sự của những bạn trẻ đang ở nước ngoài thì những gì thu hút họ về nước hoàn toàn không liên quan đến môi trường làm việc, chính sách, sự đãi ngộ của Nhà Nước. Giải thích vì sao luôn muốn về "tắm ao nhà”, Vương Phan Tuấn (Microsoft) nói: "Tuấn luôn thấy cách sống của mình mang đậm nét văn hóa Việt Nam với những kinh nghiệm và vốn sống gắn liền với gia đình và cộng đồng".

    Người đi, chất xám về ?

    Một số người cho rằng Việt Nam đang bị chảy máu chất xám, nhất là trong lĩnh vực CNTT, vì người giỏi trong lĩnh vực này rất dễ tìm việc có lương cao ở nước ngoài. Vương Phan Tuấn không nghĩ như vậy vì CNTT ở Việt Nam còn rất "mới" và "ít". Ngay khóa 30 (1995-1998, khối chuyên Toán - Tin) của anh cũng chưa chia rõ lớp chuyên Toán và Tin. Lập trình viên Việt Nam ở Mỹ cũng chưa nhiều. Tuấn cho rằng những người đang làm việc trong ngành CNTT ở nước ngoài là dấu hiệu tốt của nền nhân lực trong nước. Họ đều là những người ham học hỏi và có nhận thức tốt, có thể đang theo đuổi những hoài bão riêng trong lĩnh vực nghiên cứu hoặc kinh doanh. Những cá nhân này sẽ học hỏi kinh nghiệm của các nước tiên tiến và quay trở lại đóng góp cho đất nước, một hiện tượng đã thấy ở Trung Quốc và Ấn Độ. Như vậy, nếu không có những cơ hội tốt để họ quay về thì Việt Nam sẽ bị "chảy máu chất xám" trong tương lai gần.

    Qua theo dõi báo chí trong nước, Nguyễn Thúc Dương cũng biết nhiều người đang băn khoăn với câu hỏi về hay ở. Song theo anh, "dù ở đâu mình cũng vẫn là công dân Việt Nam, vẫn muốn khẳng định bản lĩnh Việt Nam. Cho nên ở đâu thực ra không quá quan trọng, cái chính là ở đâu mình có ích nhất cho đất nước và cho bản thân mình". Dương cho biết, anh rất mong muốn được đóng góp sức mình cho sự lớn mạnh của CNTT Việt Nam. "Thật sự tôi thấy ghen tị với Ấn Độ, vì người Việt mình không hề thua kém họ, trái lại là đằng khác, vậy mà ở đây và ở những công ty lớn khác, dân CNTT Ấn Độ rất nhiều trong khi người Việt rất ít. Tôi mơ ước một ngày Việt Nam được đứng đầu danh sách về CNTT".

    Công việc hiện tại và những dự định

    Khi được hỏi về mục tiêu trong nghề nghiệp, Vương Phan Tuấn cho biết, giai đoạn này Tuấn đang tích cực trang bị cho mình kiến thức, kinh nghiệm, và tiếp tục tìm kiếm ý tưởng để chuẩn bị cho kế hoạch về nước công tác. Nguyễn Thúc Dương cũng đang ấp ủ một số dự định và hoài bão của riêng mình, nhưng chưa tiết lộ. Dương cho biết anh muốn va chạm thực tế nhiều hơn để tích lũy kiến thức và kinh nghiệm "nuôi" cho ý tưởng chín muồi. Dương hy vọng trong tương lai không xa, anh có thể phát triển ý tưởng đó và xây dựng một công ty riêng. Ở BT, Dương đang nghiên cứu trong một Lab chuyên về trí tuệ nhân tạo. Nhóm của Dương có 5 người, tập trung nghiên cứu công nghệ trình ẩn (Agent) và ứng dụng của công nghệ này vào việc giảm chi phí và tự động hóa quá trình hoạt động của các công ty lớn.

    Ở trong nước, Nguyễn Việt Hà ngoài việc giảng dạy, còn tích cực làm công tác nghiên cứu. Hà phụ trách mảng đào tạo sau đại học và đang chủ trì đề tài "Mô hình phân lớp quản trị học và quản trị nội dung phục vụ đào tạo điện tử" (Đề tài cấp quốc gia của ĐHQG HN). Đồng thời anh tham gia một đề tài khác của Bộ KHCN do thầy Hồ Sĩ Đàm chủ trì: "Các kỹ thuật hiện đại để xây dựng hệ chuyên gia", một đề tài về trí tuệ nhân tạo. Ngoài ra, Nguyễn Việt Hà xác định anh sẽ theo đuổi nghiên cứu về giáo dục điện tử (e-learning). Anh cho rằng phong trào về e-learning ở Việt Nam gần đây tuy rầm rộ nhưng chưa cho hiệu quả thiết thực. Việt Nam chưa có nền e-learning riêng, mới chỉ Việt hóa của nước ngoài, kể cả công nghệ lẫn nội dung. Hiện nay, ĐH Công Nghệ đang phối hợp với Trung Tâm VITEC triển khai hai bài giảng đa phương tiện cho sinh viên thi chứng chỉ CNTT. Trường cũng đang phát triển một bài giảng đa phương tiện về công nghệ PM (do Hà chủ trì). Tuy nhiên kinh phí cho dự án này không được nhiều. Mặt khác, các trường trong nước thường không đặt nặng nhiệm vụ nghiên cứu, nên thời gian nghiên cứu ít.

    Bên cạnh Hà, Bùi Thế Duy đang nghiên cứu một số đề tài về truyền thông đa phương tiện, thiết bị không dây và di động, tương tác người máy, xử lý thông tin y – sinh...

    Nhìn về CNTT Việt Nam

    Có lẽ do còn trẻ tuổi và tập trung nhiều vào công việc chuyên môn, nên những người đoạt Olympic THQT có vẻ không quan tâm lắm đến các vấn đề về chính sách phát triển CNTT và ngần ngại đưa ra một cái nhìn chung về CNTT Việt Nam. Mặc dù vậy, họ cũng có những nhận xét và góp ý khá sắc sảo. Bùi Thế Duy đánh giá cao những công ty tạo ra các sản phẩm đóng gói phục vụ người sử dụng như Đan Phong, SELAB, Misa... hơn là những công ty chuyên làm dự án của Nhà Nước. Anh cho rằng CNTT Việt Nam rất cần sự lớn mạnh của các công ty làm sản phẩm đóng gói, vì những sản phẩm đó được nhiều người dùng, mang lại thặng dư cho xã hội nhiều hơn và chất lượng buộc phải ngày càng tốt hơn do được đông đảo người dùng đánh giá (khác với sản phẩm cho một dự án, ít được đánh giá, nên khó kiểm soát chất lượng). Theo anh, CNTT Việt Nam muốn phát triển thì cần xuất phát từ đội ngũ đào tạo của các trường đại học, nhằm tạo ra nguồn nhân lực chuyên nghiệp cho CNTT. Nên cố gắng phấn đấu sau 4, 5 năm nữa, sinh viên VN phải được đào tạo theo chuẩn quốc tế và khu vực. Trong đào tạo nên chia làm 2 mảng với hướng xác định trước: Đối với những người có ý định làm cho doanh nghiệp thì tập trung rèn luyện kỹ năng để khi ra trường họ có thể làm việc được ngay. Những người có khả năng nghiên cứu thì đào tạo theo cách riêng để họ có thể phát huy năng lực đó. Nhà Nước nên khuyến khích những người làm nghiên cứu, tạo điều kiện cho đi học tại các nước tiên tiến. Việc chia để dạy như vậy rất quan trọng vì giúp người học phát huy được sở trường, việc dạy cũng có hiệu quả hơn.

    Bùi Thế Duy (trái) và Nguyễn Việt Hà
     

    Cũng về vấn đề đào tạo nhân lực CNTT, Nguyễn Việt Hà cho rằng chất lượng mấy năm gần đây đã tăng lên, nhưng chương trình đào tạo chưa được hiện đại lắm, đôi khi không cập nhật. Đặc biệt cách giảng dạy trong nước không tạo thói quen tư duy, thường buộc HS-SV thuộc bài nhiều hơn là hiểu bài. Mặt khác, hiện nay chúng ta mới thiên về dạy cho sinh viên biết lập trình. Điều này cũng cần thiết nhưng chỉ giúp CNTT VN tăng trưởng trong giai đoạn trước mắt. Muốn phát triển lâu dài và bền vững phải đầu tư cho nghiên cứu cơ bản để có thể tạo ra những sản phẩm chất lượng có chất lượng cao, khả năng ứng dụng lớn. Các tập đoàn lớn trên thế giới đều rất chú trọng công tác nghiên cứu và phát triển (R&D). 
     

    Về CNpPM Việt Nam, Nguyễn Việt Hà cho rằng "rất bé để nói chuyện gì đó”. Doanh số phần mềm cả nước hiện nay vào khoảng 200 triệu USD, chưa là gì, mà ai cũng nói về CNTT. Điều kiện thiếu thốn, nhân lực yếu mà yêu cầu làm ra những sản phẩm CNTT tốt thì rất khó! Ngoài ra, kỹ năng quản lý, chuẩn hóa của Việt Nam cũng yếu. Các công ty PM hiện nay đang chạy theo việc gia công cho nước ngoài là đúng, vì thị trường trong nước nhỏ...

    Từ góc nhìn ở nước ngoài, Vương Phan Tuấn mong muốn Nhà Nước tạo nhiều cơ hội tốt trong lĩnh vực CNTT ở trong nước. Những cơ hội đó chắc chắn sẽ thu hút sự trở về của nhiều người giỏi đang làm việc tại nước ngoài. Ngoài ra, cần tạo nhiều kênh thông tin để những người này có thể tiếp cận những cơ hội đó.

    Khác với Tuấn, Nguyễn Thúc Dương quan tâm đến việc làm thế nào ở nước ngoài mà vẫn có thể đóng góp chất xám cho quê hương. Theo Dương, nên thành lập một trang web dành cho việc huy động chất xám của những trí thức làm việc ở nước ngoài. Các bộ, ngành, viện... có dự án, công trình nào đó có thể đưa lên. Nếu những người có khả năng ở nước ngoài thấy phù hợp, họ có thể liên lạc và đề nghị được tham gia. Dương cũng cho rằng nên gửi người đi học và làm việc tại các nước phát triển để thu thập công nghệ tiên tiến và tích cực áp dụng R&D vào thực tế Việt Nam.

    Một "cựu binh" Olympic khác, Phan Việt Hải (HCB 1996), từng là trưởng phòng CNTT của Sở BCVT TP Hồ Chí Minh, nay đang học cao học CNTT tại Úc, nhận xét: Lúc đi làm cho Nhà Nước tôi cũng học hỏi được nhiều. Nhưng nói phát huy hết khả năng thì chưa, vì cơ chế của mình chưa được thoáng lắm, nhiều khi muốn làm nhanh cũng không được. Tôi nghĩ chỉ cần cơ chế thoáng hơn 1 chút, thì tự động công việc sẽ tốt, các cơ quan nhà nước sẽ hiệu quả hơn, các trường sẽ tự phấn đấu để nâng chất lượng, các công ty kinh doanh sẽ dễ dàng hơn. Sau khi học xong cao học, tôi hy vọng có thể tiếp tục đóng góp ở chỗ làm cũ, hoặc vào trường đại học nào đấy có điều kiện nghiên cứu tốt. Lúc về chắc cơ chế của mình thoáng hơn rồi nên khả năng phát huy chắc cũng sẽ cao hơn.

     

    CHÍNH SÁCH CHƯA ĐỦ MẠNH

     
     

    Nhà Nước ta rất quan tâm đến việc thu hút và trọng dụng nhân tài nói chung và CNTT nói riêng, cả ở trong nước và cộng đồng người Việt ở nước ngoài, đã tạo chính sách và môi trường để thu hút họ. Nhưng theo cá nhân tôi, chính sách và môi trường hiện nay chưa đủ mạnh.
    Theo tôi để thu hút người tài trong lĩnh vực CNTT cần có những chính sách phù hợp và đủ mạnh ở từng cấp. Ví dụ:
    - Cấp quản lý nhà nước: Có chính sách ưu đãi về ươm tạo, tuyển dụng, chính sách đào tạo, hộ khẩu, cơ chế tiền lương, quĩ đầu tư mạo hiểm hỗ trợ cho phát triển các đề án, giải pháp có tiềm năng...
    - Cấp doanh nghiệp, cấp cơ sở (đơn vị sử dụng người lao động): Ưu đãi về tiền lương, đào tạo, ươm tạo, sử dụng cán bộ đúng vị trí, tạo điều kiện để họ phát huy hết năng lực...
    Hiện nay Hà Nội đang chuẩn bị ban hành chế độ phụ cấp đặc thù đối với cán bộ, công chức làm công tác quản lý, chuyên môn về CNTT-VT trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp trên địa bàn TP. Chúng tôi cũng đang dự thảo cơ chế chính sách tổng thể trong phát triển ngành công nghiệp CNTT trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Thủ Đô, trong đó có chính sách trọng dụng và thu hút nhân tài để trình lãnh đạo TP Hà Nội.
    Ông Nguyễn Mạnh Dũng, giám đốc sở BCVT Hà Nội.

     

     

    ID: B0512_17