• Thứ Bảy, 18/02/2006 09:43 (GMT+7)

    Công nghệ thông tin: Suy nghĩ về một cách tiếp cận

    Công nghệ thông tin (CNTT) đã xâm nhập vào tất cả các lĩnh vực hoạt động của xã hội (XH) và tạo ra nhiều thay đổi rõ rệt. Người ta càng ngày càng tin CNTT thật sự là động lực phát triển XH quan trọng nhất hiện nay. Tuy nhiên, nhiều người không lý giải được tại sao lại như vậy?

    Công nghệ thông tin (CNTT) đã xâm nhập vào tất cả các lĩnh vực hoạt động của xã hội (XH) và tạo ra nhiều thay đổi rõ rệt. Người ta càng ngày càng tin CNTT thật sự là động lực phát triển XH quan trọng nhất hiện nay. Tuy nhiên, nhiều người không lý giải được tại sao lại như vậy?

    Câu hỏi lớn nhất đặt ra là CNTT chỉ là một trong hàng ngàn công nghệ (sinh học, vật liệu mới, nanô, hóa dầu...), nhưng tại sao lại có thể làm thay đổi hoàn toàn đời sống của XH loài người trong khi các công nghệ khác chỉ có thể tác động lên một phần của đời sống XH đó? Trả lời được câu hỏi này, hiểu rõ bản chất của vấn đề, người ta sẽ tìm được cách thúc đẩy quá trình ứng dụng CNTT vào các hoạt động của XH một cách chủ động hơn, nhanh hơn.

       

    Trong phát triển CNTT, tổ chức và phát triển môi trường thông tin số là quan trọng hàng đầu, công cụ hỗ trợ xử lý thông tin số (các phần mềm, chương trình) đóng vai trò thứ yếu, hơn nữa, các công cụ đó thay đổi theo trình độ chuyên môn của con người. Trong khoảng 30 năm trở lại đây, thực tế phát triển CNTT ở nước ta cho thấy một hình ảnh ngược lại: quá trình tin học hoá đồng nghĩa với lập trình và sản xuất phần mềm ứng dụng.

     

    Nhiều tổ chức uy tín trên thế giới khẳng định, muốn làm cho XH thay đổi phải tác động và làm thay đổi cách con người suy nghĩ, học tập, làm việc và giải trí. Việc trực tiếp tác động lên nhân tố trung tâm và tích cực nhất của XH để làm thay đổi XH chắc chắn là một cách tiếp cận đúng. Tuy nhiên, vấn đề là tác động vào đâu?

    Con người nhận biết thế giới tự nhiên và XH xung quanh thông qua tiếp nhận và xử lý thông tin. Tri thức của con người tích tụ từ những nhận biết đó. Từ ngàn đời nay, thông tin mà con người quen sử dụng chủ yếu được diễn đạt trên giấy và xử lý bằng tay. Đó là dạng thông tin truyền thống hay thông tin thủ công. Chính tính thủ công này cản trở sự phát triển của loài người khi văn minh nhân loại đạt đến trình độ cao hơn vì: khó khăn trong tổ chức lưu trữ; mất thời gian và công sức trong xử lý, tính toán; nhiêu khê trong gửi - nhận thông tin ở khoảng cách xa (thay vì gửi thông tin đi thì người ta phải gửi cả vật mang tin đi). Vì thế từ cuối thế kỷ 19, người ta đã tìm tòi, nghiên cứu cách hỗ trợ cho bộ não con người và ước mơ đó đã trở thành hiện thực vào năm 1945, khi chiếc máy tính điện tử đầu tiên ra đời ở Mỹ. Sự kiện này mở ra một kỷ nguyên mới đầy triển vọng.

    Sau khoảng 50 năm phát triển, ngành khoa học về máy tính (computer science) hay ngành tin học theo cách gọi của người Pháp (informatique) đã vượt qua mọi trở ngại để biến cách diễn đạt thông tin thủ công ở dạng tương tự (analog) sang một dạng thức hoàn toàn mới: thông tin số (digital). Thành tựu vĩ đại này mang lại cho loài người khả năng tổ chức lại toàn bộ hệ thống thông tin của mình theo một cách hoàn toàn mới: tổ chức thông tin trên các mạng máy tính. Công nghệ giúp con người làm được việc đó là CNTT. Vì con người chỉ có thể hiểu được thế giới xung quanh thông qua tiếp nhận và xử lý thông tin nên phương thức tổ chức thông tin số trên mạng máy tính làm thay đổi cách thức mà con người nắm bắt và sử dụng những thông tin số đó. Sự thay đổi này làm dịch chuyển cả thế giới.

    Từ nhận thức trên, chúng ta thấy con đường ứng dụng CNTT vào hiện đại hoá quản lý nhà nước (QLNN) để thực hiện chính phủ điện tử, vào hoạt động quản lý sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp (DN) để xây dựng DN điện tử, vào hiện đại hóa công tác dạy và học trong hệ thống giáo dục đào tạo (GDĐT) để phát triển GD điện tử, vào XH để xây dựng XH điện tử trở nên sáng sủa và dễ hiểu. Tất cả các quá trình này đều có chung một đối tượng: con người và chung một mục đích: làm cho con người quen với môi trường thông tin số, sống và làm việc trong môi trường thông tin số đó.

     

    Ứng dụng CNTT trong một cơ quan, DN, trường học... thường được gắn với quá trình điện tử hoá. Một công sở ứng dụng CNTT thành công được gọi là "công sở điện tử". Cách gọi đó là muốn nhấn mạnh đến khía cạnh tổ chức và xử lý thông tin số - hay nôm na là cách làm việc của công sở đó chứ không phải là tạo ra một tổ chức mới như có địa phương đã hiểu lầm khi thành lập "Cục Hải Quan điện tử".

       

    Có 2 vấn đề lớn nhất được đặt ra:

    1. Làm thế nào để từ môi trường thông tin thủ công hiện tại chuyển sang môi trường thông tin số?

    2. Phải đào tạo, huấn luyện thành viên trong XH như thế nào để họ quen dần với việc sống và làm việc trong môi trường thông tin số đó?

    Cụ thể hơn, trong ứng dụng CNTT nhằm hiện đại hoá QLNN, làm thế nào để chuyển đổi toàn bộ (hay phần lớn) thông tin phục vụ QLNN hiện đang nằm trên giấy sang dạng số trên mạng máy tính của bộ máy chính quyền và làm thế nào để tất cả cán bộ QLNN quen với việc xử lý công việc hàng ngày dựa trên những thông tin số đã được chuyển đổi đó? Tương tự, trong kinh tế, làm thế nào chuyển đổi chứng từ trên giấy sang dạng số và DN quen với việc giao dịch trong môi trường thông tin số? Trong GDĐT, làm thế nào chuyển đổi được toàn bộ thông tin GD thủ công (sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu in...) sang dạng số và làm thế nào để giáo viên dựa vào giáo án điện tử để hướng dẫn học sinh học tập; còn học sinh tự học tập, tìm tòi, tiếp thu kiến thức từ những nguồn tri thức không chỉ trong sách giáo khoa điện tử mà còn trong các nguồn thông tin tri thức khác của XH, trong nước và quốc tế?

    Riêng đối với XH, ảnh hưởng của giao lưu quốc tế đóng vai trò rất quan trọng; truyền hình kỹ thuật số (DTH) đến từng gia đình, đại lý Internet có ở khắp nơi, trò chơi trực tuyến (game on-line) đang thu hút giới trẻ, đĩa CD-ROM, DVD trở nên thông dụng... tất cả làm cho XH thay đổi dần mà có thể không cần những nỗ lực lớn lao như trong 3 lĩnh vực trên. Đây là một yếu tố rất tích cực vì trong XH đến năm 2010, nhiều gia đình đã có máy tính thông minh và người dân cũng đã quen với môi trường thông tin số, họ khó có thể chấp nhận phong cách làm việc thủ công truyền thống.

    Giai đoạn 2006 – 2010 có một ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nước ta. Đó là giai đoạn hội nhập và phát triển. Hơn lúc nào hết, CNTT phải xâm nhập được vào mọi hoạt động của XH. Mong rằng trong 5 năm tới, chúng ta bù được khoảng thời gian đã qua, mỗi người một tay đóng góp cho CNTT sớm trở thành động lực phát triển quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước nhà.

    Nguyễn Tuấn Hoa
    Viện Khoa Học Công Nghệ

    ID: B0602_4